Chuyện phố đổi sang địa chỉ mới "chuyenpho2.blogspot.com"

Thẻ

23/5/14

‘Under the Skin’ hấp dẫn không chỉ vì cảnh khỏa thân


Bộ phim đầu tiên mà Scarlett Johansson khỏa thân hoàn toàn là một tác phẩm độc đáo nói về giá trị của sự sống, được kể qua phong cách rất “dị” của đạo diễn Jonathan Glazer.

Mở đầu phim bằng hình ảnh đốm sáng xanh lớn dần như một liệu pháp tâm lý gây ảo giác, Under the Skin dần đưa người xem tới một thế giới u ám đến kỳ lạ thông qua phong cách làm phim dị biệt của đạo diễn người Anh - Jonathan Glazer (phim Sexy Beast, Birth). Tốn tới gần một thập kỷ để hoàn thiện, bộ phim thuộc thể loại rùng rợn này đặt ra những câu hỏi cho khán giả về giá trị của sự sống bằng hệ thống biểu tượng dày đặc, phủ kín các cảnh phim quay đẹp khó tả. Nhưng với cách tiếp cận câu chuyện quá khác so với các phim điện ảnh phổ thông, Under the Skin trở nên khó để thẩm thấu hơn cho nhiều khán giả thiếu kiên nhẫn.

Poster ấn tượng của Under the Skin
Chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Michael Faber, nội dung của Under the Skin không hề quá khó hiểu khi theo sát hành trình khám phá sự sống của một người ngoài hành tinh (Scarlett Johansson đóng). Ban đầu, cô phải sử dụng vẻ ngoài nóng bỏng của mình để lừa những người khách đi đường lên xe, rồi chở họ tới một địa điểm để “làm thịt”. Nhưng sau sự cố với một người kỳ dị, cô lên đường chạy trốn khắp Scotland, có những trải nghiệm đầy cảm xúc với một người đàn ông ở đây. Tuy vậy, bộ phim này khá phức tạp trong cách dẫn giải, khiến người xem khó nhận ra đường dây câu chuyện nếu không để ý kỹ, hoặc chỉ biết sau khi cảnh phim cuối cùng đã chấm dứt trên màn ảnh.

Đạo diễn Jonathan Glazer không đưa cho khán giả một chiếc kẹo mút để tận hưởng phim một cách dễ dàng, mà đưa ra một khối rubik để người xem tự giải nó. Khác với các phim thông thường sẽ sử dụng lời thoại để tiết lộ nội dung, Under the Skin lại có rất ít thoại (chủ yếu xuất hiện trong các cảnh nhân vật chính nói chuyện với nạn nhân trên xe), mà sử dụng hình ảnh, âm thanh để thúc đẩy câu chuyện. Không những thế, hình ảnh được sử dụng lại không mô tả trực tiếp nội dung cảnh đó mà chỉ gợi ý cho khán giả về nó để họ tự tưởng tượng ra sự việc. Đây là cách làm phim thông minh, bắt khán giả chú ý từng tình tiết và ráp nối theo tư duy của riêng họ.

Một ví dụ là cảnh một người lái moto tới nhà kẻ bỏ trốn với ý định thủ tiêu anh ta. Hắn xông ra đấm vào cửa kính ôtô và làm nó nát vụn ngay lần đầu tiên, rồi xông tới phía sau nhà, chỗ kẻ bỏ trốn khỏa thân với khuôn mặt dị dạng đang trèo vào nhà. Cảnh phim cắt ở đó, dù không mô tả trực tiếp hành vi bạo lực với nạn nhân, khán giả đủ hiểu kết cục gì sẽ tới với anh ta. Hay như cảnh một đứa bé 3 tuổi khóc váng trời khi bị bỏ rơi ở bãi biển đêm, nơi những cơn sóng dữ dội liên tục lao đến như muốn nuốt chửng cậu. Đạo diễn hiểu rằng nếu chỉ ra toàn bộ cảnh đó, khán giả sẽ chỉ nghĩ tới hình ảnh trên phim. Nhưng nếu để khán giả tự suy nghĩ, họ sẽ tự có một tưởng tượng riêng về hành vi bạo lực ấy khiến bộ phim trở nên đa chiều và có sức nặng hơn hẳn.

Bộ phim tràn ngập hình ảnh phiếm chỉ như vậy, bắt khán giả tự ráp nối, tự hình dung, tự suy luận, tự đọc phim. Công việc xem phim trở nên khó khăn hơn một chút nhưng người xem có được những giây phút choáng váng với cách trình diễn thị giác kỳ lạ tới sởn gai ốc của Glazer. Phần hình ảnh trong phim chính là điểm nhấn kỳ vĩ nhất của phim, cả về bề nổi lẫn bề chìm, dù được dàn dựng tương đối đơn giản. Sự ghê rợn của cõi hư vô, nơi Scarlett lừa dẫn nạn nhân tới, được tạo ra chỉ bằng cách để nạn nhân tự chìm dần vào trong màu đen tuyệt đối của nó mà không cưỡng lại được. Bộ phim tràn ngập hình ảnh đẹp nhưng dị, tạo cảm giác rùng rợn cần có trong không khí phim với sự giúp đỡ tuyệt vời của phần ánh sáng, âm nhạc và diễn xuất hợp lý.

Scarlett Johansson hoàn toàn nắm kiểm soát ở vị trí trung tâm, chấp nhận những yêu cầu khó của đạo diễn, bao gồm cả việc phải khoả thân 100% (lần đầu tiên trên màn ảnh). Với vẻ quyến rũ khó cưỡng đầy mê hoặc, cô vẫn làm người xem sởn gai ốc thông qua ánh mắt và biểu cảm vô hồn, ma mị, ít cảm xúc, rất hợp với phim. Phần âm nhạc không đơn thuần là tạo không khí phim mà được nâng tầm lên thành một nhân vật xuyên suốt phim.

Bộ phim có tiết tấu chậm rãi đến khó thở này được phần âm nhạc điện tử mang âm hưởng kịch kabuki Nhật Bản từ từ bóp nghẹt, tạo ra không khí âm u, rùng rợn và chỉ chực nổ tung để tạo ra sự choáng váng cho người xem. Cảnh tượng một người đàn ông nhún nhảy trên nền nhạc “tế thần” trước hố đen hư vô của Scarlett làm người xem sợ hãi hơn cả nhân vật trong phim vì chỉ cần phần âm thanh đó cất lên là khán giả có thể cảm nhận được ngay cơn run rẩy của mình.

Under the Skin đưa ra nhiều câu hỏi về bản chất con người thông qua những hình ảnh đậm nét thú vị, bằng hàng loạt sự kiện liên quan tới sự sống và cái chết, những điều mà dường như đối lập hoàn toàn nhưng bằng cách nào đó lại thúc đẩy sự hài hòa cần thiết cho cuộc sống tiếp diễn. Cô chứng kiến những hành động yêu thương, vị tha nhưng cũng trải nghiệm cả bạo lực lẫn sự hủy diệt. Cuộc sống tưởng chừng vô nghĩa bởi những mảng đối lập ấy nhưng chính chúng lại tạo ra những sự thú vị riêng. Có cả vẻ đẹp lẫn nỗi buồn trong cuộc sống mong manh của con người nhưng chúng ta đều phải thức dậy mỗi sáng và tiếp tục sống. Do đó, theo nhiều cách khác nhau, bộ phim như một sự từ chối với chủ nghĩa hư vô dai dẳng.

Hành trình của Scarlett trong phim nhắc nhở chúng ta rằng có nhiều điều đáng bàn hơn trong cuộc sống này ngoài việc tồn tại. Sự sinh tồn đương nhiên vẫn thiết yếu nhưng cách để đương đầu với sự ngắn ngủi của cuộc sống chính là thông qua những trải nghiệm yêu thương và thỏa thích tận hưởng mọi ham muốn. Under the Skin không chỉ đơn thuần là một bộ phim mà là một trải nghiệm điện ảnh vào từng ngõ ngách tâm hồn người xem để trả lời câu hỏi “Làm người là thế nào?”. Lúc xem phim, khán giả có thể thấy căng thẳng, sởn gai ốc, lạnh gáy, giật nảy mình, nhưng khi hạ màn, tất cả sẽ phải công nhận rằng Under the Skin là một bộ phim độc đáo, đẹp lạ, thâm thúy và rất khác với những gì thông thường xem tại rạp.

Theo VnExpress

Trailer của Under the Skin


21/5/14

Cannes và Cành cọ vàng danh giá


* Niềm khao khát tại Liên hoan phim Cannes là một Cành cọ vàng 19 lá, mỗi chiếc đều được chế tác thủ công từ vàng 18-carat. Chiến tích sẽ được trao cho phim hay nhất tranh giải chính thức.

Cành cọ vàng (Palme d'Or)
* Liên hoan phim diễn ra tại khu nghỉ mát thời thượng bên bờ Côte d'Azur vào tháng 5 hàng năm kể từ năm 1952. Trước đó, Liên hoan phim được tổ chức vào mùa thu, nhưng giờ đây khí hậu nóng ẩm của mùa xuân đã trở thành một phần của bối cảnh lễ hội. Việc chụp ảnh thường diễn ra ngoài trời với hậu cảnh chính là bờ biển lịch sử ở Côte d'Azur.

* Liên hoan đã từng bị hủy bốn lần trong lịch sử. Năm 1939, Liên hoan phim bị hủy bỏ do Thế chiến II bùng nổ, còn trong các năm 1948 và 1950 là do vấn đề ngân sách.

* Tấm thảm đỏ nổi tiếng, nơi các ngôi sao trong làng điện ảnh phô diễn trang phục quyến rũ của họ, dài 60 mét. Tấm thảm sang trọng này cũng được phủ lên 24 bậc thềm dẫn lên Palais des Festivals nơi các bộ phim được trình chiếu.

Tấm thảm đỏ danh tiếng dẫn lên Palais des Festivals
* Liên hoan phim Cannes vinh danh cả diễn viên lẫn đạo diễn. Giải thưởng chính là Cành cọ vàng - một trong những giải thưởng danh giá nhất trong ngành công nghiệp điện ảnh.

* Khoảng 60 bộ phim đang được trình chiếu tại Liên hoan phim Cannes lần thứ 67 năm nay, 18 trong số đó đang chạy đua giành giải chính thức - Cành cọ vàng. Hai mươi bộ phim khác cũng được trình chiếu bên lề, bao gồm cả bộ phim tiểu sử gây tranh cãi, "Grace of Monaco."

* Cành cọ vàng năm nay được lựa chọn bởi một ban giám khảo mà trưởng ban là đạo diễn New Zealand Jane Campion. Campion là nhà làm phim nữ duy nhất đã giành được giải thưởng danh giá năm 1993 cho phim "The Piano".

* Ban giám khảo đã xem khoảng 1.700 bộ phim trước khi chọn ra các phim được đua tranh giải chính thức. Một số phim không tranh giải sẽ được trình chiếu những suất đặc biệt. Ví như phim “Welcome to New York”, với Gérard Depardieu trong vai cựu giám đốc IMF Dominique Strauss-Kahn được chiếu riêng cho các nhà báo xem tại LHP Cannes 2014.

* Có tám đạo diễn đã hai lần giành giải Cành cọ vàng: Francis Ford Coppola, Shohei Imamura, Bille August, Emir Kosturica, anh em nhà Dardenne, Michael Haneke và Alf Sjöberg.

Francis Ford Coppola - Đạo diễn tài danh từng hai lần dành Cành cọ vàng
với The Conversation (1974) và Apocalypse Now (1979)
* 12.000 du khách dự kiến ​​sẽ tham dự "Marché du Film" - hội chợ phim của ngành công nghiệp điện ảnh, diễn ra song song với lễ hội. Hội chợ là nơi gặp gỡ giữa các nhà sản xuất, đạo diễn, giám đốc xưởng phim, các nhà phân phối và nhà đầu tư.

* Khoảng 4.580 nhà báo đưa tin từ Liên hoan phim Cannes năm nay, trong khi năm 1966 chỉ có 600 nhà báo và nhiếp ảnh gia đã tham dự lễ hội.

Theo Deutsche Welle


20/5/14

Cành cọ vàng: Sex và chuyện "đền giải"


Tương truyền rằng, ở một kỳ Liên hoan phim nọ có một đạo diễn vô cùng tài năng bị Cannes dè bỉu để rồi sau khi xem lại phim của ông, người ta mới nhận ra đã bỏ qua một kiệt tác, bèn hứa là kỳ sau, dù vị đạo diễn khả kính mang tới bất cứ phim nào, ông cũng không bị bạc đãi.

Câu chuyện trên không thể kiểm chứng, vì nếu có thì cái giao kèo vui vui đó hẳn cũng không phải bằng văn bản. Nhưng thực tế rất giống với trường hợp của đạo diễn người Nhật Nagisa Oshima.


Những cảnh bạo liệt trong phim In the realm of the senses
Cannes 1976, Nagisa Oshima đem tới quả bom tấn - không phải theo nghĩa đầu tư hàng chục triệu $ hay ngập tràn siêu sao và kỹ xảo mà là vì tác động khủng khiếp của nó - In the realm of the senses. Bộ phim được xây dựng trên câu chuyện có thật, về một người phụ nữ đi trên phố, trong tay cầm dương vật cô vừa cắt của người đàn ông mình yêu. Cô là Sada Abe, một gái điếm giải nghệ, bị ngập trong mối quan hệ tình ái điên cuồng với ông chủ khách sạn Ishida. Cuộc sống của họ xoay quanh chuyện làm tình, làm tình và làm tình, mọi nơi, mọi lúc, mọi tư thế... như một kẻ nghiện coi thuốc là lẽ sống. Phim thật đến trần trụi, diễn tả những cuộc mây mưa như thể nhét máy quay vào giường ngủ một cặp vợ chồng vậy. Ăn sex (đúng nghĩa đen nhé, cảnh làm tình trong bữa ăn của họ khiến đứa bạn tôi suýt ọe, phải ném luôn cái bánh mỳ ăn dở. Ai bảo không nghe lời tiền bối, chống chỉ định ăn trước và trong khi xem phim!), ngủ sex, cho đến một lúc, Abe không thể dừng lại, còn Ishida thì trống rỗng tận cùng, họ đi đến kết cục chết vì sex.

Nghe mô tả đã ớn, nếu nhốt mình trong phòng kín suốt 2 giờ đồng hồ với In the realm of the senses, hẳn một tháng sau (lâu - nhanh tùy tạng người) bạn vẫn không thể ôm ấp người tình của mình một cách thoải mái.

Thế nên, khi trình chiếu ở Cannes, In the realm of the senses bị cho là phim porno, còn Nagisa Oshima bị ném đá tơi bời. Nhưng, cùng với thời gian, khi những xúc động mạnh mẽ nhất qua đi (và có thể là vì đã hoàn hồn để ôm ấp người tình), các nhà phê bình bắt đầu nhận ra chân giá trị của bộ phim và tài năng của Oshima. Nói về tình dục nhưng không nhằm khiêu khích, giải trí, mà ngược lại, khiến người ta ghê sợ, choáng váng, đó mới là cách Oshima lựa chọn. Tình dục là phương tiện diễn tả nội tâm, tính cách, số phận nhân vật. Đồng thời, qua cách nhân vật đắm chìm trong dục vọng, đạo diễn cũng góp tiếng nói mỉa mai, phê phán thái độ xã hội của một lớp người thời ấy.

Sau khi hiểu ra rồi, Cannes 1978 lập tức trao giải Đạo diễn xuất sắc nhất cho Nagisa Oshima - một tụng ca hơn mọi lời nói. Đáng nói là giải thưởng này dành cho ông với bộ phim về tình dục khác mãnh liệt không kém "In the realm of the passion". Kể ra thì ngoài tài năng, Oshima cực kỳ dũng cảm, khi bắt tay xây dựng tiếp "vương quốc" thứ hai này trong lúc những lời ong tiếng ve còn chưa dứt, ông xứng đáng được 2 lần tôn vinh.

Nagisa Oshima (1932 - 2013)
Nói thêm một chút, có lẽ rút kinh nghiệm từ việc phải "đền giải" cho Oshima mà từ đó về sau, Cannes tích cực trao danh hiệu cao quý nhất cho những bộ phim sex bạo liệt và gây tranh cãi ngay từ lần đầu ra mắt. Ví dụ như: Sex, lies, and videotape (1989), Blue is the Warmest Colour (2013).

Cẩm Giang




Thế giới tuần qua: Tượng đài ra đi, tượng đài sụp đổ


1. Nhà quay phim huyền thoại của thế kỷ 20 - "Ông hoàng bóng đêm" Gordon Willis qua đời ngày 18/5 ở tuổi 82, khi còn 10 ngày nữa là tới sinh nhật lần thứ 83.

Ông là người đã tạo nên những thước phim cổ điển Annie Hall, Manhattan... của đạo diễn Woddy Allen và đặc biệt là bộ ba tác phẩm nổi tiếng The Godfather.

Gordon Willis, nhận Giải thưởng Danh dự từ tay Jeff Bridges,
ngôi sao trong phim 
Bad Company của đạo diễn Robert Benton,
bộ phim cao bồi do chính Willis quay
Ảnh: Sưu tầm từ Alt Film Guide
Sở dĩ Gordon Willis được gọi là "Ông hoàng bóng đêm" vì ông có biệt tài sử dụng ánh sáng cực ít để tạo ra hiệu quả cực cao trong những khuôn hình. Ông cũng là người khám phá ra cách sử dụng bóng tối như một phép ẩn dụ về hình ảnh để diễn tả nội tâm nhân vật. Đặc biệt, tông màu nâu trầm, nhiều bóng đổ mà Gordon sử dụng trong The Godfather phần I đã trở thành mẫu mực của nghệ thuật quay phim những năm 70.

Trong cuộc đời 82 năm và 50 năm hoạt động trong ngành điện ảnh, Gordon Willis đã thực hiện 20 phim truyện. Ông từng 2 lần được đề cử giải Quay phim xuất sắc nhất của Viện Hàn lâm điện ảnh Mỹ trong hai phim Zelig và The Godfather phần 3. Năm 2009, ông được nhận giải Oscar danh dự thành tựu trọn đời.

2. Một tượng đài khác trong lòng người hâm mộ thì vẫn sống ở tuổi cổ lai hy, nhưng sụp đổ hình ảnh sau dư âm của một vụ kiện cáo.

Chuyện là thế này, Misha Defonseca - tác giả cuốn tự truyện “Misha: A Mémoire of the Holocaust Years” (1997) kẻ về một cô bé Do Thái một mình đi bộ xuyên Châu Âu sau khi cha mẹ bị quân Đức Quốc xã bắt, được dịch sang 18 thứ tiếng, chuyển thể thành phim... từng thắng kiện nhà xuất bản cuốn sách số tiền lên tới 22,5 triệu bảng. Thế nhưng, trong quá trình kiện tụng, nhà xuất bản đã lần mò ra một số chi tiết bất hợp lý và cuối cùng phát hiện ra rằng, Misha Defonseca thực ra tên thật là Monica Ernestine Josephine De Wael và chẳng phải người Do Thái gì sất. Còn thời điểm được kể trong tự truyện rằng cô bé phải sống trong rừng cùng bầy sói và chiến đấu với lính Đức Quốc xã thì thực ra tác giả đang theo học tại một ngôi trường ở Brussels (Bỉ).

Misha DefonsecaẢnh: Sưu tầm từ Daily Mail
Người lời nhất ở đây là nhà xuất bản, vì dĩ nhiên khi sự thật phanh phui thì họ được trả lại số tiền thua kiện nêu trên, trong khi lúc húc đầu vào một câu chuyện gây rúng động họ đâu có thiết điều tra sự thật. Còn tác giả Misha Defonseca đã thừa nhận những điều mình bịa đặt trong tự truyện, cầu xin sự tha thứ từ tất cả những ai cảm thấy bị bà lừa dối và mong được cảm thông.

Một phần của câu chuyện bịa: Sống với sói trong những ngày lẩn
trốn Đức quốc xã
Ảnh: Sưu tầm từ Daily Mail
Có lẽ vì bà đã già, 76 tuổi, nên không thể trốn chạy hay chứng tỏ bằng cách đi du học đâu đó, nhưng ít nhất chúng ta cũng nên tôn trọng vì bà đã cầu xin được tha thứ chứ không chối bay chối biến và đổ lỗi cho người đọc. Công chúng rốt cục có lỗi gì đâu, mà sách thì bỏ tiền mua rồi và phim cũng đã xem từ lâu.

Cẩm Giang
Theo Rolling Stone, Hollywood Reporter, Daily Mail, New York Daily News


19/5/14

LHP Cannes: Cơn địa chấn mang tên 'Chuyện tào lao'


Tháng 5/1994, Nelson Mandela tuyên thệ nhậm chức để trở thành tổng thống da đen đầu tiên của Nam Phi. Cùng tháng 5, đường hầm xuyên biển Manche nối giữa Anh và Pháp đi vào hoạt động. Nhưng tháng đó còn có một sự kiện đáng chú ý khác, chính xác là một cơn địa chấn trong lĩnh vực văn hóa, khi phim Pulp Fiction được trình chiếu lần đầu tại LHP Cannes.

Nhà phê bình phim Anne Thompson vẫn còn nhớ rằng Pulp Fiction (Chuyện tào lao) được chiếu khai mạc vào 8h30 sáng. Năm ấy cô đang ở trong trung tâm triển lãm hội nghị Palais des Festivals, nơi tổ chức LHP Cannes, với tư cách nhà báo của tờ Entertainment Weekly. Cô đang trông chờ một buổi chiếu phim vui vẻ tại LHP, không ngờ đã được chứng kiến một hiện tượng gây sốc với Pulp Fiction.

Uma Thurman trong Pulp Fiction
Kỳ tích của một phim độc lập

Và không chỉ Thompson mới bị sốc. Phản ứng do Pulp Fiction tạo ra nhanh chóng lan truyền trong giới phê bình và chẳng mấy chốc, người ta nói rằng phim đã "tái sáng tạo" thể loại phim găngxtơ, phim mang đề tài tội phạm, theo những cách thức gây kinh ngạc.

Tại Cannes, phim đã giành giải Cành cọ vàng cao quý nhất. Trong những tuần tiếp theo, khi phim đi tới các LHP khác và được tung ra rạp, nó đã nhận được vô số lời khen ngợi tấm tắc. Lúc tới LHP New York, hoạt động trình chiếu khai mạc sự kiện của phim đã phải tạm dừng vì sự cố.

David Ansen, nhà phê bình phim của tờ Newsweek nhớ lại: "Có người bị ngất và bác sĩ phải tới hỗ trợ. Họ đã chiếu lại bộ phim, từ đoạn nhân vật do John Travolta thủ vai cầm kim tiên đâm thẳng vào tim để cứu nhân vật của Uma Thurman thủ diễn và đám đông đã vỗ tay rầm rầm".

Nhưng như nhà báo Steven Garrett của tờ New York Observer hồi tưởng, nhiều khán giả đã cho rằng đây (màn ngất xỉu) chỉ là chiêu quảng bá của các nhà sản xuất phim. "Mọi người đều tin rằng nhà sản xuất Harvey Weinstein đã làm giả sự kiện đó nhằm khiến màn chiếu ra mắt trở thành sự kiện đáng nhớ" - ông nói.

Vũ điệu ấn tượng trong Pulp Fiction
Dù Weinstein "diễn" hay không, có một thực tế là Pulp Fiction đã trở thành bộ phim ăn khách khủng khiếp, bất chấp việc nó là phim độc lập, không được sự hỗ trợ của các hãng phim lớn. Phim thu về doanh số hơn 200 triệu USD trên toàn cầu.

Cách mạng hoạt động làm phim

Pulp Fiction gồm 3 câu chuyện chủ đạo, được chia làm 7 phần, xoay quanh một nhóm các nhân vật thuộc về thế giới ngầm, sống trong khung cảnh tội phạm ở Los Angeles. Họ gồm John Travolta và Samuel Jackson trong vai các tay anh chị, Uma Thurman là vợ của ông trùm tội phạm và Bruce Willis thủ vai một tay quyền Anh đã cao tuổi. Rất nhiều thời lượng trong phim được dành cho các cuộc hội thoại và độc thoại, bộc lộ khiếu hài hước của nhân vật và quan điểm của họ về cuộc sống.

Bộ phim đã tác động mạnh tới khung cảnh văn hóa pop khi đó. Nó có một phần âm thanh hết sức ấn tượng, kỹ thuật quay phim xuất sắc và lời thoại rất thông minh. Phim chiếm được cảm tình của nhiều khán giả trẻ, những người thấy nó như một món cocktail thú vị, dễ gây say.

“Cảm giác giống như bạn vừa thấy thứ gì đó mang tính cách mạng trong hoạt động làm phim ở Mỹ" - fan phim ảnh Frank Powers sống ở New York chia sẻ. Anh mới ở trong độ tuổi 20 khi lần đầu xem Pulp Fiction và rất ấn tượng với cách Tarantino làm phim. “Ông chỉ tập hợp nhiều yếu tố gây ảnh hưởng đã tồn tại trong điện ảnh vào phim của mình" - Powers nhận xét - "Nhưng cái cách ông gắn kết các yếu tố đó mới là điều khán giả chưa từng được chứng kiến trước đây".

Theo giới phân tích, yếu tố chủ chốt dẫn tới thành công ấn tượng củaPulp Fiction chính là cảm giác tươi mới mà nó mang lại. Ken Dancyger, giáo sư điện ảnh và truyền hình tại Đại học New York chỉ ra một trong những sự mới mẻ là lối thay đổi trạng thái hết sức đặc biệt mà Tarantino đã làm trong phim. “Ông ấy có xu hướng chuyển đột ngột từ hài hước sang hoàn toàn bạo lực, như một thủ pháp gây sốc" - ông đánh giá.

Ngoài ra, nội dung của phim đi theo một cấu trúc phi tuyến tính, phi truyền thống đã khiến khán giả bị hớp hồn. Wheeler Winston Dixon, giáo sư nghiên cứu phim ảnh ở Đại học Nebraska-Lincoln, đánh giá: "Nó đã thay đổi toàn bộ mô hình về bộ phim người ta nên làm để phục vụ khán giả, từ độ dài rất lớn cho tới tính phức tạp, độ thông minh, sức sống và tính mới lạ của câu chuyện bên trong. Cuối cùng còn phải nhắc tới yếu tố phim không làm theo các quy luật thông thường và khán giả phải thường xuyên đoán xem chuyện trong phim sẽ diễn tiến tiếp ra sao".

Pulp Fiction còn mang tới các nhân vật nhận được sự đồng cảm từ khán giả, dù những nhân vật này rất bạo lực. "Phim nhân bản hóa nhân vật bạo lực và pha trò với thể loại phim thấm đẫm yếu tố bạo lực này" - Dancyger nói thêm.

Một tượng đài khó lật đổ

Tất nhiên không phải ai cũng bị Pulp Fiction chinh phục. Nhà phê bình Kenneth Turan của tờ Los Angeles Times là một trong vài tiếng nói chống đối. "Việc vừa làm tác giả kịch bản, vừa đạo diễn dường như đã gây áp lực lớn" - ông viết - "Một số đoạn tạo cảm giác tuyệt vọng trong sáng tạo, của một người sợ mất đi danh tiếng đang tìm mọi cách để làm tổn thương cảm xúc của khán giả”.

Một số nhà phê bình khác đánh giá bộ phim là hời hợt, nông cạn, nhưng được bồi đắp bằng các tiểu tiết khiến nó trông có vẻ đặc biệt, sâu sắc. Tuy nhiên theo Dixon, những kẻ đưa ra nhận xét "nông cạn" đã bỏ qua chiều sâu rất lớn hiển hiện tại kịch bản phim, trong những lời thoại. "Đó là những lời thoại hay nhất mà Tarantino từng viết ra" - ông nói.

Ngoài ra Tarantino còn bị chỉ trích vì nghệ thuật hóa bạo lực và đưa nó vào hoạt động làm phim dành cho đại chúng. Nhưng các fan của ông sẽ khó chấp nhận được những chỉ trích kiểu này. "Tôi không trách Quentin Tarantino được, đặc biệt khi trước đó 20, 30 năm đã có những nhà làm phim như Sam Peckinpah, từng thiết lập tiêu chuẩn bạo lực trong phim ảnh mà tới nay vẫn chưa có kẻ nào vượt qua được"- Stephen Garrett nhận xét.

Dù khen hay chê, không phủ nhận được thực tế Pulp Fiction đã tác động tới cả một thế hệ các nhà làm phim, những người muốn học theo phong cách Tarantino. Đã có vài bộ phim nhái theo Pulp Fictionxuất hiện. Nhưng trong con mắt các fan của Tarantino, các phim đó sẽ không bao giờ có được sự tuyệt hảo của Pulp Fiction.

“Anh có thể nêu ra một danh sách các bộ phim đã chịu ảnh hưởng bởiPulp Fiction, tuy nhiên các phim này chưa từng tiến gần phim gốc về độ tỏa sáng" - Thompson nói - "Thời điểm Pulp Fiction mới ra mắt không ai nghĩ nó lại gây ảnh hưởng lớn tới thế, sẽ có tác động lên tất cả các bộ phim theo chân nó".

Theo Thể thao Văn hóa



14/5/14

Những sắc thái của tiếng khóc


“Người ta có miệng có môi/ Khi buồn thì khóc khi vui thì cười”. Ca dao xưa đã tổng kết như vậy. Phải chăng cuộc đời  đơn giản thế sao? Đương nhiên, trong thế giới nghệ thuật, nhất là trong lĩnh vực  điện ảnh, các nghệ sỹ luôn không ngừng khám phá thế giới nội tâm  con người để phát hiện ra những  cung bậc buồn vui vô tận. Chính điều đó đã góp phần làm nên những sắc thái của tiếng khóc trong phim trở nên đa dạng, đa chiều.

Khi xem phim Hàn Quốc, khán giả chúng ta thường có nhận xét: Tại sao những nhân vật nam  hay khóc nhiều thế? Người yêu giận. Khóc. Bị sếp mắng, cũng khóc. Không tìm được lối thoát, lại khóc. Người xem có cảm giác, trai Hàn yếu đuối. Nhưng trong thực tế, lại ngược lại. Đàn ông Hàn thường có tính cách mạnh mẽ và lạnh lùng. Phải chăng, khi xây dựng những nhân vật này, các nhà làm phim Hàn có chủ ý làm họ “mềm hóa” để cân bằng với cuộc sống thường ngày?

Cảnh trong phim Đàn sếu bay
Nhớ lại nhiều năm trước, khi màn ảnh nước ta chiếu bộ phim Nga Đàn sếu bay, nhiều khán giả đã khóc nức nở khi xem cảnh Vera tiễn Boris ra trận nhưng không gặp được. Boris đi trong doàn quân, cố tình nhìn Vera ở hướng này nhưng cô lại đang chạy ngay bên anh, hướng khác. Cô gào to tên anh nhưng quân nhạc cùng tiếng bước chân rầm rập và muôn ngàn âm thanh khác làm át giọng cô. Sao cảnh tiễn đưa người ra trận ở Nga giống ở nước mình đến vậy? Trong mỗi người xem đều có một Vera, một Boris của mình.

Đạo diễn điện ảnh nổi tiếng người Ý Federico Fellini (1920-1993)  rất có tài trong việc truyền xúc cảm đến người xem. Trong phim Nights of Cabiria (Những đêm của cô Cabiria), ông đã  chân thành kể chuyện cô gái điếm rất nghèo, bị hết người này lừa đến người khác gạt, thậm chí còn bị một tên “người tình” ma cô  có ý đồ giết để cướp của. Đoán được dã tâm của hắn, cô đã phải quỳ xuống, dâng cái túi trống rỗng của mình cho hắn. Bẽ bàng, tên cướp bỏ đi. Cô ra khỏi khu rừng cũng chính là lúc bình minh. Cô vừa đi vừa khóc. Nhưng sau cô, một đoàn thiếu niên đi cắm trại. Chúng đánh trống, thổi những hồi ken lảnh lót như những khúc ca vô tình ngợi ca người con gái của nước Ý. Âm nhạc đó như tiếng lòng của đạo diễn, của người xem, lau nước mắt cho cô.

Cảnh trong phim Nights of Cabiria
Cũng cần nhắc đến bộ phim nữa của ông, phim La Strada (Bài ca đường phố). Cảnh cô gái nghèo đi theo gánh xiếc của gã đàn ông thô bạo Zambano khiến người xem đau đớn. Cô bị hắn đánh đập, chân đau, không giầy dép, mắt nhòa lệ, vẫn phải vừa nhảy múa vừa cất tiếng hát mua vui cho khán giả ở thị trấn nghèo. Và lệ vương trên mi mà cô vẫn phải cười, phải tươi nét mặt dưới ánh mắt vằn đỏ gườm gườm của ông chủ. Cô càng cười tươi bao nhiêu, càng nhảy đẹp bao nhiêu, người xem càng nát cõi lòng bấy nhiêu.

Cảnh trong phim La Strada
Trong điện ảnh Mỹ có nhiều phim đi sâu vào những sắc thái tình cảm. Gần đây nhất là bộ phim Zero Dark Thirty (Sau 0 giờ 30 phút tối - 2012). Bộ phim kể lại quá trình đấu tranh kiên trì, bình tĩnh đến cùng của cô gái Maya (Jessica Chastain) với những ông xếp quan liêu trong bộ máy CIA. Chính cô là người đã phát hiện ra chỗ ở của trùm khủng bố Al-queda sau vụ 11/9. Nhưng tiếng nói của một người phụ nữ trong cơ  quan phản gián đầy đàn ông có bao nhiêu sức nặng? Không mệt mỏi, cô quyết theo mục đích của mình đến cùng. Lòng kiên nhẫn cùng ý chí không thỏa hiệp của cô cuối cùng đã được đền đáp. Trong cảnh cuối, khi cô lên chiếc máy bay quân sự trở về Mỹ, khoang máy bay trống rỗng. Chỉ mình cô lên ngồi. Giữa không gian trống trải đó, lúc bấy giờ, cô mới nghẹn ngào khóc. Cô khóc, không phải vì chiến thắng mà khóc vì tủi thân, khóc vì phận nữ nhi thời chiến của mình. Và người xem như thấm từng giọt lệ của cô.

Cảnh trong phim Zero Dark Thirty
Chúng ta cũng không thể quên những hình ảnh cuối trong phim Black Swan (Thiên nga đen), nhân vật Nina (Natalia Portman), dù trải qua bao đau đớn, bao ảo ảnh cùng thực tế nghiệt ngã, cuối cùng cũng giành được vai diễn của mình. Cảnh cô diễn Thiên nga đen bị thương, rồi cảnh cô diễn Thiên nga trắng tìm đến cái chết với thân hình mang nhiều thương tích, với bàn chân rướm máu nhưng cô vẫn múa say mê trong trạng thái  thăng hoa. Trong cảnh diễn Thiên nga trắng tự vẫn, lúc nhảy từ núi cao xuống vực sâu, khi nhìn xuống hàng  ghế khán giả, Nina thấy mẹ đang khóc, còn người xem vỗ tay như sấm. Còn cô, nằm bất động trong lúc cả đoàn kéo đến chúc mừng. Cô không khóc mà chỉ thầm thì: “Tôi đã cảm nhận được nó - Hoàn hảo - Tôi đã hoàn hảo”. Khán giả ứa nước mắt trước sự cống hiến, hy sinh vì nghệ thuật của nữ diễn viên balê. Hỏi còn gì đau đớn và hạnh phúc hơn?

Chuyện đàn ông khóc trên phim Hàn đã là chuyện quá bình thường
Những nhân vật trên, những câu chuyện trên chính là nghệ thuật. Dù đớn đau, dù nước mắt có chảy, nhưng đó là những giọt lệ trong sáng, được thanh lọc từ vị đắng cuộc đời, góp phần nhỏ bé của mình thanh tẩy tâm hồn chúng ta. Đó là những giọt nước mắt của nghệ thuật đích thực.

Theo Thế giới Điện ảnh



13/5/14

Avatar - 3 siêu phẩm liên tục trong 3 năm

Poster của Avatar
Bản quyền thuộc LightStorm Entertainment
Từ cuối năm 2016 đến 2018, cả thế giới sẽ liên tùng tục được chiêm ngưỡng bộ ba siêu phẩm tiếp theo của bom tấn 3D Avatar (2009 - James Cameron).

Mới đây, trả lời trên diễn đàn của trang Reddit, đạo diễn James Cameron cho biết đang sản xuất đồng thời cả phần 2, 3 và 4 của bộ phim Avatar. "Hiện tại, tất cả đều đang trong giai đoạn tiền kỳ, chúng tôi đang thiết kế các sinh vật ngoài trái đất, sắp đặt bối cảnh và diễn viên của ba phần phim cùng lúc. Và có thể nói giai đoạn này, cùng kịch bản, sẽ được hoàn thành trong 6 tuần", Cameron chia sẻ.

Giải quyết bộ ba siêu kịch bản trong 6 tuần - Chỉ có thể là James Cameron

Dù trượt giải phim hay nhất tại Oscar 2010 vào tay chính vợ cũ của vị đạo diễn, Avatar của J. Cameron là một bộ phim mới thực sự, làm thay đổi thói quen, văn hóa thưởng thức phim của công chúng và vượt qua mọi ranh giới trong ngành công nghiệp điện ảnh.

Jake Sully và Neytiri
Bản quyền thuộc 
LightStorm Entertainment
Kịch bản phim Avatar là sáng tạo của riêng vị đạo diễn, song ba phần tới sẽ có một nhóm biên kịch san sẻ khó nhọc với ông, gồm: Josh Friedman, Rick Jaffa, Amanda Silver và Shane Salerno.

Cứ tưởng đạo diễn của các bom tấn thu về tỉ đô thì vung tay xả láng nhưng đối với Cameron, ông cũng gặp áp lực phải cắt bỏ những đoạn mình yêu thích để rút ngắn phim cho vừa với kinh phí.

Cameron từng ví ba phần tiếp theo của Avatar là một saga về gia đình như "The Godfather" bởi đó là câu chuyện về gia đình mới của Jack Sally (Sam Worthington), gia đình mà anh đã tạo dựng trên hành tinh Pandora. Phần 2 cũng hứa hẹn những cảnh quay dưới nước đáng mong đợi.

Avatar 2 sẽ được đưa vào sản xuất mùa thu này với sự trở lại của bộ ba Sam Worthington, Zoe Saldana và Stephen Lang. Sigourney Weaver cũng sẽ tiếp tục vào vai Tiến sỹ Grace Augustine. Ủa, bà đã chết ở phần 1 cơ mà, bạn nghĩ thế? Thực sự thì chẳng có ai chết trong một bộ phim viễn tưởng cả, và Cameron đã bảo rồi, Grace sống hay chết thực ra phụ thuộc vào công ty quản lý Sigourney hơn bất cứ điều gì khác.

Và trong khi chờ đợi siêu phẩm ra mắt, bạn có thể chuẩn bị đi du lịch Pandora và nói chuyện với nàng Neytiri đầy cá tính bằng cách học tiếng Na'vi tại đây.

Cẩm Giang tổng hợp
Theo Variety, Screencrush.com


12/5/14

Vì sao người Mỹ thất bại?

Cẩm Giang - Phương Thảo

Martin Sheen trong phim Apocalypse
Ảnh chụp từ phim
“Tao yêu mùi bom napal vào buổi sáng… Chú mày biết không, cả mùi xăng trên ngọn đồi cứ như là mùi của chiến thắng… Một ngày nào đó cuộc chiến này sẽ tàn”. Lời tâm sự vừa ngang tàng vừa nhuốm mùi cay đắng của Trung tá Bill Kilgore (Robert Duvall) đúng là báo hiệu cho ngày tàn của cuộc chiến mà người Mỹ đã gây ra tại Việt Nam, chỉ khác là chiến thắng đã không đến với họ.


Họ là những con người ở thế giới văn minh nhưng đã trở nên man rợ đến nỗi đặc biệt yêu thích mùi bom đạn như Bill Kilgore, chém giết đến điên cuồng như Đại tá Walter E. Kurtz (Marlo Brando) và hoang mang như Benjanmin L. Willard (Martin Sheen)…

“Apocalypse Now” (1979) của đạo diễn Francis Coppola là lời giải thỏa đáng cho câu hỏi vì sao người Mỹ thất bại trên đất Việt? – trong một cuộc chiến mà chỉ có thể gói gọn vào hai chữ “kinh hoàng”, như lời của Đại tá Walter E. Kurtz nhắc đi nhắc lại ở cuối phim.

Những sỹ quan “phát điên”

Bộ phim có một cấu trúc khá phức tạp, dựa trên hai cái hành trình diễn ra song song. Hành trình thứ nhất, hiển hiện rõ (chính là cốt truyện) là cuộc tìm kiếm của Đại úy Benjanmin L. Willard để thực thi nhiệm vụ giết Đại tá Walter E. Kurtz. Đằng sau đó – hành trình thứ hai, ngầm ẩn – là sự thay đổi về nhận thức của viên Đại úy sau mỗi lần anh ta hiểu thêm về người mình săn đuổi cũng như về bản chất cuộc chiến. Chính vì là một phim hành trình, nên “Apocalypse Now” tuy phức tạp vẫn được chia làm các phần rõ rệt, dựa trên những nơi mà nhân vật chính đi đến, những biến cố anh ta trải qua. Mỗi biến cố tương ứng với một trường đoạn, cũng chính là một lời giải thích của tác giả về sự thất bại của quân đội Mỹ.

Bill Kilgore, viên trung tá yêu mùi bom napal
Ảnh chụp từ phim
 
Ban đầu, chúng ta được gặp một viên chỉ huy có vẻ mạnh mẽ, can trường trước khói lửa chiến tranh – Trung tá Bill Kilgore. Ông ta không hề sợ súng đạn, thậm chí còn thích ngửi mùi bom như “mùi chiến thắng”. Bill còn ra vẻ là một “tay chơi đẹp”, bởi khi có một người hấp hối được cho là Việt cộng đòi nước ông đã mắng lính của mình vì không cho người này uống và nói rằng “bất cứ ai dám chiến đấu đến lòi ruột cũng đều xứng đáng uống nước của ta”. Thế nhưng, thực sự con người này ra sao? Vừa có một phát ngôn đáng nể, ông ta đã quên ngay và quẳng bi-đông nước chỉ vì nhìn thấy Lance Johnson (người đi cùng tàu với Đại úy Willard) – một người lướt sóng nổi tiếng mà ông ta ngưỡng mộ. Nhiệm vụ của Willard là đi tìm Đại tá Kurtz – người được cho là đã “phát rồ” với những hành động kỳ cục, nhưng thực ra Bill trước mắt anh lúc đó cũng không hề bình thường. Ông ta bắt Lance và một số người khác lướt sóng ngay giữa trận chiến với mưa bom bão đạn do chính ông ta tạo ra; cũng ngay trận chiến đó, Bill cởi phăng áo, đưa cho một người lính bên cạnh để anh ta thay mình chỉ huy; rồi Bill còn mở nhạc thính phòng phát trên loa vang dậy, lấy đó làm thú vui khi âm nhạc đe dọa được những người dân quê mùa, bom dội như mưa, súng đạn dậy đất gây ra cảnh giết chóc man rợ được hòa quyện với loại nhạc được cho là biểu tượng của thế giới văn minh… Chúng khiến cho ta phải bật lên câu hỏi: Đó là những người nắm giữ quân đội Mỹ đấy ư, là những người hy vọng sẽ giành được mảnh đất Việt đấy ư – những người mà với họ việc tàn sát đồng loại là một thú tiêu khiển có đẳng cấp?

Walter E. Kurtz, viên đại tá lầm lạc hay là người
tiên đoán về sự thất bại của Mỹ tại Việt Nam
Ảnh chụp từ phim
 
Đại tá Kurtz – người bị săn lùng, người chỉ hiện ra qua lời đánh giá, qua những xấp tài liệu và qua trí tưởng tượng của Willard – cuối cùng cũng xuất hiện, một cách sinh động nhất cho cái gọi là “kinh hoàng” và “phát điên”. Viên Đại tá này có một lý lịch tuyệt vời, ngồn ngộn chiến công. Ông dường như sinh ra là để dành cho quân đội, như lời của tự sự của Willard thì một ngày nào đó ông ta có là thống lĩnh hay cái gì đó cao hơn nữa cũng không phải là lạ. Thế nhưng đột nhiên Kurtz không hành động theo kỷ luật quân đội nữa, ông ta giết hàng trăm dân lành vô tội, tiến quân đến vùng biên giới Việt-Campuchia và xây dựng một đế chế cho riêng mình, nơi ông được những người Cam-bốt tôn vinh. Cùng với hành trình khám phá của Willard và hành động khác thường của Kurtz, chúng ta biết được rằng, ông ta đã đi vào ngõ cụt. Bởi sau những chiến công, sau ánh hào quang chói lọi, Kurtz nhận ra tất cả tuổi trẻ hăng say, tất cả lý tưởng của cuộc đời mình rốt cục chỉ phục vụ cho sự dối trá của chính phủ Mỹ lúc bấy giờ, phục vụ cho cuộc chiến xấu xa và tàn bạo. Kurtz đứng trước sự lựa chọn giữa lương tri và lòng trung thành và rốt cục đã chọn rút khỏi quân đội. Thế nhưng, đi tiếp con đường nào thì ông bế tắc. Càng đi, Kurtz càng vào sâu trong rừng, đường về của ông càng mờ mịt và rồi trở nên bất khả. Làm sao ông có thể trở về khi đã mang danh kẻ phản bội? Nhưng trong thâm tâm, viên Đại tá vẫn muốn được chết như một người lính, bởi vậy ông chờ đợi một người như Willard, đến và kết liễu cuộc đời đau đớn, kinh hoàng của mình. Cái chết của ông được dựng song song với cái chết của con trâu đực trong lễ tế ngoài kia, để hiến dâng cho thần thánh, hay đơn giản chỉ là một sự giải thoát?

Sự hoang mang của người lính

Cùng với con tàu của Willard, người xem được lạc vào một cánh rừng nhiệt đới âm u, nơi chứng kiến những người lính Mỹ điên cuồng, náo loạn và khủng hoảng tinh thần nghiêm trọng vì sự xuất hiện của một con hổ. Con hổ ở đây là biểu tượng của thiên nhiên rất đỗi bình thường của rừng núi Việt Nam, nó có thể đáng sợ, nhưng đáng sợ đến nỗi những người lính Mỹ phải đúc kết “tốt nhất không bao giờ xuống khỏi tàu”, thì nó lại mang một ý nghĩa khác. Toàn bộ sắc màu của trường đoạn này mang một gam xanh sậm, gợi lên cảm giác bí ẩn, lạnh lẽo và đầy đe dọa. Câu kết luận của người lính là một sự tự vệ tức thời nhưng nó quả là đúng với hiện trạng của họ, nếu không hiểu được thiên nhiên nơi đây, không thể nắm được vùng đất này, thì liệu họ có thể yên ổn ở đó được chăng?

Ánh mắt hoang mang của người lính
Ảnh chụp từ phim
 
Trong hành trình đi sâu hơn vào biên giới Việt – Campuchia – nơi họ cho rằng Kurtz ẩn náu, Willard cùng những người tháp tùng của mình gặp một sư đoàn gần như bị bỏ hoang, không có người chỉ huy, không còn ai có ý nghĩ chiến đấu, những người lính ở đó chạy đùa, lột quần nhau làm trò vui, họ thậm chí bán các cô gái mà họ có cho những người đi qua mua vui chỉ nhằm đổi lấy dầu. Ta bắt đầu cảm thấy nực cười, đó là việc mà chính phủ Mỹ phải kéo những cậu bé mới thành niên sang một xứ sở xa lạ để giao cho họ làm ư?

Những sỹ quan thì điên cuồng – dù là trong sự tàn bạo hay trong cuộc đấu tranh nội tâm của họ, còn những người lính thì rã rời, hoang mang, không định hướng. Đó là những khám phá qua hơn 2h phim được coi là đỉnh cao trong sáng tạo nghệ thuật của đạo diễn Coppola. Đồng thời đây cũng là lời giải cho sự sa lầy của một trong những đội quân hùng mạnh nhất thế giới tại một nước nhỏ yếu hơn. Nhưng trên hết, vị đạo diễn tài ba này cũng đem đến cho người xem những sự thật cay đắng về con người trong chiến tranh từ đó đưa ra thông điệp phản chiến mạnh mẽ cho nhân loại.


8/5/14

Tạm biệt con gái

hay Ca khúc trong phim Mama mia

Cẩm Giang

Cảnh trong phim Mama mia
Bản quyền @ Universal
Dù Đông hay Tây, thì người mẹ vẫn thế, không thể kìm lòng lúc con “rời khỏi vòng tay mẹ”.

Trong một phim ca nhạc như “Mama mia”, âm thanh quan trọng nhất chính là nhạc và bài hát. Nếu những nhân vật trong phim truyện thoại bằng lời nói thì nhân vật trong phim ca nhạc thoại bằng lời hát. Vì vậy bài hát và âm nhạc ở phim ca nhạc hầu hết nằm trong câu chuyện.

Một trong những bài hát gây được xúc động cho người xem trong “Mama mia” là “Slipping through my fingers” (ABBA) do Donna hát với con gái Sophie khi chuẩn bị váy cưới cho cô. Nếu so sánh hai phiên bản, có thể thấy phiên bản do ABBA thể hiện có phong cách chuyên nghiệp và mạnh mẽ, với những đoạn phô diễn giọng hát và nhiều bè phụ bên cạnh bè chính; còn phiên bản do Donna hát thì có giọng điệu tâm tình, nhẹ nhàng như lời thủ thỉ của mẹ với con gái. Lời hát nói về tâm trạng của mẹ khi con cắp cặp tới trường, là hạnh phúc khi buổi sáng mẹ được đánh thức bởi tiếng gọi ríu rít của con – cô bé đáng yêu, cô bé luôn muốn thoát khỏi vòng tay mẹ, trong khi mẹ luôn muốn giữ con bên mình. Đó là khi mẹ thấy quặn trong tim, bởi con bịn rịn không muốn bước đi ngày hôm nay...

Trong đoạn này, nhân vật không chỉ hát, có những đoạn, Donna đã nói-lời-hát. Đó là ở câu “…a funny litte girl”, Donna hát-nói kèm với một cái bật cười, qua đó thấy hết sự âu yếm, trìu mến của người mẹ.

Đoạn này cũng có sự phối hợp nhuần nhuyễn các loại âm thanh. Ngoài bài hát còn có âm thanh phát ra từ chiếc hộp nhạc mà Sophie mở ra. Sau khi Sophie mở cái hộp là cảnh hai mẹ con đứng trước gương và thoại. Vẫn giai điệu “Slipping through my fingers” nhưng lúc này có thoại đi kèm, nhạc chỉ còn thánh thót như những giọt nước nhỏ xuống, dịu ngân. Để rồi vào phút giây trọng đại, cô con gái thực sự ra đi, thì nhạc dần lớn rồi giọng hát của họ đồng thanh cất lên, ngân dài, trong khi họ cười mà mắt rớm lệ, đỏ hoe. Đó chính là giờ phút chia tay thiêng liêng, là khoảnh khắc trọng đại trong cuộc đời con và cả mẹ nữa.

Cuộc chia tay của Donna và con gái, với bài hát “Slipping through my fingers” khiến những ai hay liên tưởng có thể nhớ Lâm Thị Mỹ Dạ với những câu thơ biết khóc:

“Mẹ có một thời con gái
Như hạt sương màu cỏ xanh
Mẹ sinh con là con gái
Hạnh phúc – niềm đau, một lần”

Hay giản dị hơn như bộc bạch của người mẹ quê lúc đưa con đi lấy chồng:

“Đưa con ra đến cửa buồng thôi
Mẹ phải xa con khổ mấy mươi
Con ạ đêm nay mình mẹ khóc
Đêm đêm mình mẹ lại đưa thoi”
               (“Lấy chồng” - Nguyễn Bính)

Dù Đông hay Tây, thì người mẹ vẫn thế, không thể kìm lòng lúc con “rời khỏi vòng tay mẹ”.

Khi Sophie ra cổng và được đón lên chú ngựa hoa, nhạc rộn ràng xen với tiếng cười, tiếng vỗ tay. Rồi giọng hát chùng xuống cùng với bước đi của Sophie. Khuôn mặt mẹ cô nhỏ xíu giữa khuôn hình. Bà rơm rớm nước mắt, xua tay rồi vẫy chào. Đến từ “waving goodbye”, tiếng hát một lần nữa như lời nói, lời chào của mẹ. Rồi câu hát dịu đi, tắt dần. Nhạc cũng tắt.

Có sự phù hợp đến từng chi tiết trong âm thanh với hành động và cảm xúc nhân vật trong đoạn này. Từ việc lựa chọn bài hát tới cách hát, cách gia giảm âm nhạc, lồng với những âm thanh khác (thoại, tiếng vỗ tay, tiếng cười…) đều được sử dụng một cách tài tình, làm nổi bật lên sự bịn rịn, niềm hạnh phúc, tình yêu, sự gắn bó và cả nỗi xót xa trong cuộc chia tay giữa mẹ và con gái.

10/2/14

Xem phim Cánh đồng bất tận

Hàn Giang

Cảnh trong phim Cánh đồng bất tận
Bản quyền @ BHD
Khi ánh đèn phòng chiếu bật sáng, tôi và người bạn đi cùng nặng nề đứng lên. Khác với mọi lần, chúng tôi lẳng lặng ra về và trao đổi rất ít về bộ phim. Bên ngoài, dọc bờ hồ Thủ Lệ, vẫn những cơn gió mơn man của mùa thu Hà Nội. Gió thu, không đủ lạnh để thiếu nữ quàng thêm khăn ấm làm duyên, cũng không đủ nhẹ nhàng để làm vơi đi cảm giác ngột ngạt của những số phận trên màn ảnh.

Xuyên suốt bộ phim, tác giả dường như chủ tâm thay mặt nữ giới thống thiết gào lên nỗi bất hạnh của đàn bà. Nhân vật mẹ (Tăng Thanh Hà thủ vai) ngã vào tay gã Ba Tàu nhưng cô dường như không biết mình có tội. Có tội chăng là cảnh đời nghèo khó, là nỗi khát khao làm đẹp được quy định bởi tính nữ vĩnh hằng. Cô ngỡ là tấm lụa trắng của gã Ba Tàu có thể đổi được “không bằng lúa”. Và lúc đổi, chắc chắn cô không nghĩ rằng cô đã đánh đổi không chỉ xác thịt mà còn cả cuộc đời của hai đứa con.

Câu chuyện được bắt đầu với số phận một người đàn bà – một con điếm đã không còn là con điếm kể từ giờ phút ấy. Sương (Hải Yến thủ vai) là một số phận buồn thảm. Dạt về một miền quê nghèo khi hương sắc đã không còn làm lu mờ ánh đèn thị thành được nữa, cô tiếp tục chịu một trận đòn ghen dữ dội và nhục nhã trước khi được cha con ông Võ (Dustin Nguyễn) cưu mang. Sương mắc nợ cha Điền vì đã cho cô nương náu. Nhưng như thế liệu có đủ để cô phải chịu thêm hai lần sỉ nhục từ người đàn ông mà cô nghĩ là cô có thể cải tạo? Thực ra, Sương có muốn đổi thân xác mình để lấy sự sống của đàn vịt nhà ông Võ không? Không! Đấy chỉ là lần dấn thân thứ hai của Sương trong nỗ lực thức tỉnh người đàn ông đang chìm đắm trong nỗi đau mất vợ. Và cô đã thất bại. Một lần nữa, cuộc đời Sương lại dạt đi trong ngút ngàn đồng năng, chỉ một con đường nhưng không điểm đến.

Dọc theo câu chuyện tuyến tính bi đát ấy, một mảng đời khác xuất hiện: Hai chị em Nương – Điền. Điền (Võ Thanh Hoà) là một cậu bé mà suốt tuổi thơ chỉ biết có “vịt – cá và bùn”, chưa bao giờ nhìn thấy con chữ và lâu lắm rồi không được thụ hưởng cái gọi là tình thương. Cậu sẵn sàng – như cậu nói – ‘giết chết những ai động đến chị” để bảo vệ Sương. Một suy nghĩ đầy tính anh hùng đường phố kết tinh từ bản tính ghét cái ác và nỗi khao khát tính dục bùng phát ở tuổi dậy thì. Kết cục, Điền đã dùng súng cao su bắn gãy răng một gã giang hồ miệt đồng, bắn vỡ chim một gã khác và bóp cổ, dìm nước gã thứ ba đến chết vì một trong ba gã đã ngủ với Sương để đảm bảo cho sự sống của bầy vịt nhà cậu. Sau cuộc chiến đó, Điền biến mất. Mất hút như làn khói đốt đồng giữa mênh mông sông nước miền Tây. Với cuộc đời của cha cậu, cậu vô can. Cậu cũng không giống mẹ đến mức bị cha ghét. Nói chung, sự có mặt của cậu chỉ là tấm đệm để cô gái điếm lọt vào gia đình cậu.

Chị của cậu thì khác. Nương (Lan Ngọc) là một nhan sắc đồng quê non nớt, đẹp và giống hệt người mẹ đã bỏ đi từ năm em lên chín. Bảy năm trời lầm lũi sống bên cạnh người cha chỉ giao tiếp bằng tiếng “gầm gừ và tằng hắng”, Nương dường như đã đủ thời gian để thấu hiểu vì sao mẹ em ra đi, vì sao cha em trở nên cộc cằn và thô lỗ. Hầu như em chỉ mơ ước một điều là “phải chi bảy năm qua tía cũng” thể hiện được tình thương với chị em Nương. Ngay cả ước mơ của em cũng nghèo nàn đến mức em chỉ dám ước ngược về quá khứ. Ngoài ra, cuộc sống của Nương trong phim chẳng có gì đáng nói cho đến khi em bị một gã giang hồ miệt đồng cưỡng hiếp trong khi cha em – gã đàn ông cục cằn – bị hai thằng khác oánh bầm dập và giữ chặt.

Và Út Võ bừng tỉnh.

Tại sao bộ phim gần như không muốn khắc hoạ nỗi đau đàn ông? Dù chính nỗi đau ấy là lý do chính tạo nên bi kịch cuộc đời của cha con Út Võ - người đàn ông đã hết mực âu yếm yêu thương, đã quần quật lam làm để một ngày trở về và biết vợ mình đã đi mất.

Tác giả đã buộc hai người đàn bà (Sương, Nương) phải trả giá cho lỗi lầm của một người đàn bà khác (vợ Út Võ). Đặc biệt là gánh nợ đời ấy được dồn lên vai cô bé 17 tuổi. Bị buộc phải biến thành đàn bà theo một phương cách không thể ghê tởm hơn, Nương – và qua đó là cả Út Võ - xem như đã bị dồn đến tận cùng bi kịch. Tại sao bộ phim không kết thúc ở cảnh Sương đi vào đồng năng? Tại sao gia đình Út Võ phải chịu thêm một thảm cảnh đau lòng đến thế? Tôi không biết! Nhưng tôi cảm thấy bất nhẫn khi nỗi đau “bất tận” được đặt lên cuộc đời một đứa bé. Khi ánh mắt Nương thảng thốt, khi Nương lịm đi trước mặt cha, tôi như cảm thấy rất rõ cuộc đời em oằn xuống, trĩu nặng. Trĩu nặng đến mức dù bộ phim được kết thúc bằng một lời thoại đầy tính nhân văn thì lòng tôi vẫn day dứt.

(Viết 27/10/2010; chuyển từ Facebook Note sang)

Jeff - El Loco