Chuyện phố đổi sang địa chỉ mới "chuyenpho2.blogspot.com"

Thẻ

4/6/14

Rượu Sán Lùng


Sán Lùng cạn mãi không say,
Đầy vơi nỗi nhớ những ngày không em.
Một rằng quên.
Hai rằng quên.
Rượu đà trơ đáy mùi men vẫn còn.
Uống rượu ở chợ phiên Đồng Văn
Ảnh: Jeff Phạm
Ai thế nào không rõ, riêng Jeff thích uống Sán Lùng (1) ướp lạnh trong ly cao có chân, miệng ly hơi khum vào trong. Tay cầm chân ly, ngón trỏ hơi tỳ nhẹ lên đáy ly (riêng chị em thì cong ngón út lên tí cho duyên) để hơi ấm ở bàn tay không làm mất độ lạnh của rượu. Trước khi uống, nghiêng ly về phía ánh nến để cảm nhận sự trong vắt, tinh khiết của rượu; một sự thanh khiết mang dáng vẻ thanh tân của gái đồng trinh. Thảng hoặc rượu ánh lên chút xanh dịu nhẹ của cốm, biêng biếc như mắt con gái khi ngắm sương mai đọng hờ hững trên đóa hồng hàm tiếu. Thong thả đưa chén kề môi, lắng lòng thưởng thức hương thơm tinh khiết, thoảng qua như sương, như khói mà cuốn hút, nồng nàn như đắm, như say.

Rượu Sán Lùng vị ngọt dịu và hơi ngậy. Uống vào cảm giác bừng lên ngây ngất; tim đập rộn lên những nhịp nồng nàn, chân thật. Sán Lùng dùng để đối ẩm với bằng hữu thì tình bạn thêm bền chặt; đối ẩm với hồng nhan tri kỷ thì tình yêu thêm thăng hoa. Độc ẩm thì nhớ càng thêm dày, thì kỷ niệm đắng cay cũng thành hoài niệm ngọt ngào.

(1) Xã Sán Lùng thuộc huyện Bát Xát tỉnh Lào Cai - là nơi có thứ rượu ngon nổi tiếng. Nếu như các loại rượu khác đều cất từ gạo, ngô hoặc sắn nấu chín và ủ men thì rượu Sán Lùng được ủ và cất theo một quy trình độc đáo và công phu.

Nguyên liệu là thóc mẩy đều hạt, đem ủ cho nảy mầm, lúc đó tinh bột được chuyển hóa thành đường ở mức cao nhất. Người Dao đỏ đem thóc nảy mầm cho vào chõ đồ chín, tãi ra nong cho nguội, tới nhiệt độ thích hợp mới trộn đều với men, rồi ủ từ năm tới sáu ngày, khi tỏa mùi thơm thì đem cất rượu. Dù quy trình, nguyên liệu như vậy nhưng nếu nấu ở nơi khác, rượu sẽ không ngon bằng ở Sán Lùng. Bởi ngoài những bí quyết truyền đời, có lẽ nguồn nước và tiểu vùng khí hậu là những yếu tố không thể thay thế được đã tạo ra hương vị đặc biệt của rượu Sán Lùng.

Viết sau khi đối ẩm với Trần Nam Ngạn ở một quán rượu đâu đó ở phố Ấu Triệu từ hàng tỷ năm trước. Mới nghe tin bạn trở thành người gìn giữ hòa bình cho thế giới, chúc bạn thành công!

Jeff Phạm


Rượu


Theo truyền thuyết và ghi chép lịch sử của Trung Quốc, Đỗ Khang hay còn gọi Thiếu Khang, là quốc vương thứ năm của triều nhà Hạ.

Phù điêu mô tả người Cơ tu uống rượu cần
Ảnh: Dân trí
Tương truyền, vào khoảng vương triều thứ tư, triều nhà Hạ xảy ra chính biến, tranh giành chém giết lẫn nhau. Khi đó hoàng hậu của quốc vương đương triều đang mang thai đã phải trốn chạy về quê mẹ đẻ và sinh hạ được một cậu con trai. Vì mong muốn cậu bé giỏi giang như ông nội Trọng Khang, nên bà đã đặt tên cho con là Tiểu Khang.

Thuở nhỏ Tiểu Khang sống với nghề chăn thả gia súc, cơm mang theo thường treo lên cành cây, nhiều khi quên ăn. Một vài ngày sau, Tiểu Khang phát hiện túi cơm đã biến mùi, chảy ra những giọt nước trong vắt, ngọt ngào, thơm ngát. Điều đó đã gây hứng thú cho cậu bé. Qua nhiều lần tìm tòi nghiên cứu, cuối cùng cậu đã phát hiện ra nguyên lý lên men, sau đó từng bước mô phỏng, cải tiến để rồi tìm ra một công nghệ ủ và nấu rượu hoàn chỉnh. Từ đó Đỗ Khang được coi là ông tổ của nghề nấu rượu ở Trung Quốc.

Tuy nhiên dân gian cũng có một câu chuyện vui về việc tìm ra rượu và thưởng thức rượu như sau:

Thứ nước uống do Đỗ Khang mới đầu tìm ra chỉ là một loại nước giải khát thông thường, như Coca Cola hay 7Up của chúng ta hiện nay, không có chất cồn gây cảm giác lâng lâng hay say sưa sau khi uống. Đỗ Khang ngày đêm suy nghĩ, mong muốn cải tiến. Một hôm trong lúc ngủ, có một vị thần hiện về bảo với Đỗ Khang rằng, trong ba ngày tới, mỗi ngày vào giờ Dậu hãy ra cổng thành phía Tây xin một giọt máu của người gặp đầu tiên, sau đó về pha vào thứ nước uống kia sẽ được hiệu quả như ý. Đỗ Khang bèn làm theo. Ngày đầu tiên ngay đầu giờ Dậu ông đã gặp được một thi sĩ, xin được một giọt máu của ông ta. Ngày hôm sau ra chỗ cũ ngồi đợi, quá nửa giờ Dậu mới gặp một tráng sĩ và anh ta cũng vui vẻ cho Đỗ Khang một giọt máu. Ngày thứ ba, đợi mãi đợi mãi, gần hết giờ Dậu vẫn không thấy bóng dáng một ai. Mãi đến cuối giờ Dậu xuất hiện một tên lưu manh, không còn cách nào khác, Đỗ Khang phải xin hắn một giọt máu.

Đã có đủ ba giọt máu xin đúng giờ Dậu, Đỗ Khang pha vào món nước kia uống thử, hiệu quả thật tuyệt vời. Đó cũng chính là thứ rượu mà chúng ta uống hiện nay. Vì vậy trong tiếng Hán, chữ “tửu - rượu” () được cấu tạo gồm bộ chấm thuỷ (3 giọt máu) và chữ dậu (giờ Dậu) đứng sau.

Tửu - Trương Khắc Tư viết
Thú vị hơn là chuyện uống rượu. Khi mới uống, vài ba chén ban đầu chính là chúng ta uống giọt máu của thi sĩ, vậy nên ai cũng ăn nói rất hoa mỹ, bay bướm, giàu ý thơ. Tiếp theo chúng ta uống giọt máu của tráng sĩ, đến lúc này sức khoẻ dường như vô biên, ai mời cũng uống, liên tục “dzô dzô” rồi “trăm phần trăm”. Cuối cùng là giọt máu của kẻ lưu manh, uống xong say xỉn phá phách, làm những điều bậy bạ, vi phạm thuần phong mỹ tục hay phạm pháp cũng là do uống đến giọt máu của kẻ lưu manh này.

Đàn ông Hmoong và rượu ngô
Ảnh: Jeff Phạm
Vậy nên uống rượu ngày nay, không được giống như các thi sĩ ngày xưa “bầu rượu túi thơ, uống xong “xuất khẩu thành chương”, nhưng cũng cố gắng giữ mình chỉ uống hết “giọt máu thứ nhất”. Quá lắm mới uống đến “giọt máu thứ hai” là cũng đỡ tốn tiền hại sức khoẻ rồi. Đừng uống đến “giọt máu thứ ba” mà không giữ được chính mình.

Chuyện phố xin tặng quý vị danh mục các loại vang dùng với hải sản.



 Ngọc Khanh

20/5/14

Nặng lòng với bản Hiêu

Nếu đã chán ngán phố phường đông đúc, chật hẹp; nếu muốn tìm một nơi phong cảnh hữu tình, không gian trong trẻo để thư giãn bên những người dân chất phác luôn đón bạn bằng những câu chào thân ái, hồn hậu; đừng chần chừ, hãy chuẩn bị hành lý và về với bản Hiêu (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa). Một hành trình gian nan nhưng thú vị đang chờ đón bạn.

Địa chỉ đỏ cho dân “phượt”
Từ thủ đô Hà Nội, đi về hướng Nam, theo đường Hồ Chí Minh, sau 140 km bạn sẽ đến Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Từ Cẩm Thủy, rẽ vào tỉnh lộ 217, đi thêm 36 km đường rải nhựa, bạn chính thức bước vào thử thách đến với bản Hiêu. Đoạn đường sau đó chỉ 20 km đường rừng núi nhưng sẽ ngốn của bạn gần một giờ đồng hồ trên xe gắn máy để đến một trong bốn ngôi nhà trọ hiếu khách của bản. Với chúng tôi, thời gian ấy còn kéo dài hơn dự kiến, bởi lịch trình đúng vào buổi chiều là thời điểm mặt trời xuống núi đẹp ngây ngất, nên chúng tôi không thể kìm lòng ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ ấy.
Mặt trời xuống núi
Từ đầu làng, chúng tôi bắt gặp những cọn nước lớn. Trước kia, dân bản sử dụng cọn nước như một chiếc “cối” giã gạo nhưng nay chúng hầu như chỉ để dẫn nước và làm đẹp cho bản. 
Cọn nước của người Thái ở Suối Đũa
Những cọn nước tô điểm cho vẻ đẹp của con suối
và những mái nhà phía xa
Lang thang chụp ảnh dọc đường đến bản Hiêu thật không còn gì tuyệt hơn, nhưng chúng tôi cũng làm chủ nhà - anh Hà Văn Tùng - khá lo lắng. Anh đã gọi cho chúng tôi tới bốn lượt và đi xe ra đón chúng tôi ở đầu dốc dẫn tới nhà trọ khi đêm vừa buông xuống. Đêm ở bản thanh bình lạ. Xe máy của chúng tôi đều để dưới sàn nhà, không cần khóa cổ, mũ bảo hiểm để ngay yên xe. Tiếng ễng ương dưới ao chuôm ru chúng tôi vào giấc ngủ êm đềm. Sáng sớm chúng tôi được đánh thức bởi tiếng gà eo óc và ánh bình minh dìu dịu hắt qua cửa liếp. Đối với dân “phượt”, có thể gọi bản Hiêu là “địa chỉ đỏ” ở chốn “thâm sơn cùng cốc”.
Ngôi làng yên bình dưới chân núi, dọc đường vào bản Hiêu
Ruộng lúa xanh rờn tạo như những chiếc thảm nhung
tô điểm cho núi rừng Tây Bắc

Hiếu khách và chân tình
Bản Hiêu đẹp đến cỡ nào, bạn có thể dễ dàng nhận ra qua những tấm ảnh, nhưng để biết người bản Hiêu đáng mến ra sao, chúng tôi khuyên bạn hãy đến tận nơi và tận hưởng.
Như đã kể, trên đường đến bản, chúng tôi đã được anh chủ nhà tận tình gọi điện và chỉ dẫn từng mét đường. Bữa ăn ngon trong đêm đầu tiên ở bản cũng đã là quá tuyệt vời với gà rừng, rau sạch, rượu thơm, nhưng cảm động hơn là sự tận tình của chị chủ. Chị rót mời chúng tôi chén rượu và dành lại sự riêng tư cho khách. Khi chúng tôi không dùng hết đồ ăn, vì hơi nhiều, chị tỏ ra áy náy vì sợ khách không hợp khẩu vị. Sáng sớm, chúng tôi dậy từ tinh mơ khám phá bản Hiêu, chị chủ đã chuẩn bị bữa sáng chu đáo và không quên hỏi chúng tôi ngủ có ngon giấc. Lần thứ ba, là khi chị thu tiền trọ lúc chúng tôi ra về, vẫn với sự chất phác, chị thu tiền xong còn hỏi tôi: “Thế có đắt không ạ?” và không quên chúc chúng tôi đi đường may mắn và bỏ qua cho những sai sót của gia chủ.
Có lẽ đã lâu lắm, kể từ khi ở thành phố tới nay là mười mấy năm, dù được tận hưởng dịch vụ ở khách sạn nhiều sao, lần này tôi mới thực sự nghĩ mình là thượng khách với đúng nghĩa của từ - trân trọng mà không xa cách, thân tình mà không quỵ lụy. Có thể họ được huấn luyện, cũng có thể họ thực sự coi chúng tôi là thượng khách. Hóa ra ở nơi thâm sơn cùng cốc này, dịch vụ du lịch lại hoàn hảo và chuyên nghiệp hơn cả ở những đô thị văn minh.
Nhà ở bản Hiêu
Một đóa hoa dại vàng rực trong nắng sớm
Buổi sáng, khi chúng tôi đang hăng hái sục sạo những con đường, cây cỏ, những vạt đồi và nếp nhà sàn… thì một giọng nói cất lên “Chào anh chị ạ!”. Đó là của một cô bé chừng 14, 15 tuổi. Cô cười với chúng tôi rồi tiếp tục đi với cái gùi trên lưng. Không ai bảo ai, chúng tôi đều sựng lại. Có lẽ chúng tôi đã quá quen với sự xa cách, cảnh giác lẫn nhau nơi thành thị, vì vậy sự hiếu khách, chân tình của dân bản đã làm chúng tôi bất ngờ, xen lẫn một chút xấu hổ. Không màu mè, khách sáo; sự nhiệt tình, chất phác của người dân bản Hiêu đã khiến chúng tôi không muốn rời bước.


Người bản Hiêu

Peter và Lucie - du khách người Canada nặng lòng với bản Hiêu
đã lưu lại đây mấy ngày từ trước khi chúng tôi đến
Thông tin thêm
Bản Hiêu nằm ở Đông Nam khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, cách thị trấn Cành Nàng (huyện Bá Thước, Thanh Hóa) khoảng 20 km. Bản nằm trong thung lũng nhỏ, bao quanh là núi Hiêu. Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô. Hiêu theo tiếng dân tộc Thái nghĩa là con hươu. Dân làng kể rằng, sở dĩ bản được đặt tên đó là do ngày xưa có một người đi săn, đuổi theo con hươu rồi nhờ vậy mà tìm ra nguồn nước, thấy phong cảnh nên thơ với thung lũng và con thác đẹp nên định cư, lâu dần thành bản. Ngày nay dân cư bản Hiêu vẫn còn thưa thớt, có 45 hộ, 178 nhân khẩu, chủ yếu là người Thái. Bản Hiêu bắt đầu làm du lịch từ năm 2003. Hiện có bốn hộ cung cấp dịch vụ homestay (ở cùng chủ nhà) là anh Sỹ, anh Nối, anh Ba và anh Tùng. Du khách đến đây sẽ được sắp xếp ở nhà sàn, rộng rãi và sạch sẽ. 

Cẩm Giang


19/5/14

Chốn vương giả giữa cao nguyên đá


Đến Đồng Văn, Hà Giang, không thể không đến thăm một địa điểm ghi dấu thời kỳ vàng son của con người từng bá chủ một vùng cao nguyên đá rộng lớn với vô vàn huyền tích bao quanh, đó là di tích lịch sử nhà Vương, hay được dân gian quen gọi là dinh thự vua Mèo.

Huyền thoại cao nguyên

Dinh thự được xây dựng trong lòng thung lũng Sà Phìn, bao quanh là dãy núi đá chỏm nhọn hoắt với những con đường vắt vẻo, quanh co tựa như một sợi chỉ trắng mỏng manh trên bức tranh thêu nhiều màu sắc. Giữa thung lũng quanh năm mây mù bao phủ, nằm trên tuyến đường chông gai, xa xôi nơi cực bắc tổ quốc này, khu dinh thự đồ sộ có kiến trúc vương giả, thành quách kiên cố với rừng sa mộc hùng dũng vươn lên cao vút tận mây trời là minh chứng hùng hồn cho quyền lực và sức mạnh độc tôn của “vua Mèo”.

Dinh thự vua Mèo nằm trong lòng thung lũng Sà Phìn quanh năm mây phủ
Vị “vua Mèo” Vàng Dúng Lùng - tên theo âm Hán-Việt là Vương Chính Đức - được đồng bào dân tộc Mông tôn là vua. Sau này, người ta thường nhầm lẫn quy địa vị này cho con trai thứ của ông - Vàng Chí Sình, nhưng chính hậu duệ của ông khẳng định rằng, chỉ có Vương Chính Đức mới được người Mèo nơi đây ngưỡng mộ và suy tôn là vị vua duy nhất. Xung quanh ông có rất nhiều câu chuyện huyền thoại, kỳ bí tựa như lớp mây mù bao phủ quanh vùng đồi núi hiểm trở này vậy. Bên cạnh tài trí hơn người, ông còn được cho là Vương Chính Đức có… phép thuật, biết sử dụng tà đạo để thuyết dụ dân chúng.

Ông Vương Chính Đức (ngồi giữa) cùng con cháu và quân lính
(Ảnh chụp lại từ di tích)
Thực tế, Vương Chính Đức là một người thông minh, tài trí hơn người, thổi khèn hay và có khả năng thu phục lòng người. Sinh năm 1865, đến năm 1900, ông đã chỉ huy nghĩa quân Mông chiếm cứ một vùng núi cao, rừng rậm, lập nên “nghĩa binh hươu nai” đương đầu với giặc Cờ Đen và tiêu diệt chúng, giành Đồng Văn vào tay người Mông. Sau đó, ông tiếp tục chỉ huy nghĩa quân kháng Pháp và chiến đấu chống lại âm mưu xâm chiếm của nhà Thanh. Trong 9 năm, từ 1900 đến 1909, nghĩa binh hươu nai đã chiến đấu một mất một còn với những đợt tấn công liên tục của đội quân Pháp, song thua trận buộc phải nhường Đồng Văn cho Pháp. Không chịu bại trận, Vương Chính Đức tiếp tục tuyển mộ binh sĩ, rèn luyện và đánh Pháp trong 4 năm ròng cho đến khi giành được thắng lợi vang dội vào năm 1913. Trước sức mạnh áp đảo của đội quân này, Pháp đã phải ký Hòa ước Pháp - Mèo với nhiều điều khoản có lợi cho người Mèo. Theo Hòa ước, Pháp phải triệt thoái quân đội khỏi Đồng Văn, trả Đồng Văn cho người Mông cai quản bằng chế độ tự trị. Muốn thu mua thuốc phiện, các đại lý thuốc phiện Pháp phải tăng giá lên 5 lần, từ 2 hào lên 1 đồng cho mỗi lạng (tính theo đơn vị cân vàng).

Sau khi ký Hòa ước, Vương Chính Đức gần như trở thành vị thánh sống của vùng, độc chiếm nguồn lợi thuốc phiện trên toàn xứ Đồng Văn.

Khi Vương Chính Đức qua đời, ông giao cơ nghiệp lại cho người con thứ là Vàng Chí Sình (sinh năm 1885). Vàng Chí Sình sau này đi theo cách mạng, kết nghĩa với Hồ Chủ tịch. Trong “Tuần lễ vàng” do Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phát động, Vàng Chí Sình đã cho vận chuyển về Hà Nội 22 vạn đồng bạc trắng và 9 kg vàng để ủng hộ chính phủ Cụ Hồ.

Một thời vang bóng

Dinh thự vua Mèo được giữ lại đến ngày nay, để người đời sau ngưỡng mộ và nể phục vị vua tinh thần của người Mông từng một thời vang bóng. Ai đã từng đến thung lũng Sà Phìn không thể không choáng ngợp trước quần thể di tích được xây dựng với chi phí là 150.000 đồng bạc trắng, mà tính theo thời giá hiện tại, chưa kể công sá, phải lên tới gần 40 tỷ đồng.

Chất “chơi” của vị vua này phải kể đến việc ông thuê thợ tận Quảng Tây, Trung Quốc xây dựng tòa lâu đài tới 64 phòng tất thảy bằng đá khối và gỗ sa mộc. Cùng với những người thợ Mông lành nghề bậc nhất thời bấy giờ, dinh thự được chăm chút từng chi tiết, tạo nên kiến trúc độc đáo, pha trộn giữa những nét đặc trưng của kiến trúc nhà Thanh, Trung Quốc vừa nổi bật vẻ độc đáo của nhà người Mông Việt Nam.


Chi tiết trang trí có hình chim bay và
phù điêu phượng hoàng triển dực chạm khắc tinh tế
Các nguyên vật liệu đá, gỗ và ngói lợp cũng được vận chuyển từ Quảng Tây, cho nên công trình mất tới 8 năm không liên tục để hoàn tất. Rừng sa mộc với 120 gốc cao ngút hùng dũng hiện tại cũng được vận chuyển từ Quảng Tây đến.

Khu dinh thự vừa là nơi vị vua Mèo sống vừa là pháo đài bất khả chiến bại của ông. Tường thành được xây cao vút, xung quanh có quân lính bảo vệ, cách mỗi đoạn tường lại được bố trí các lỗ châu mai và chòi canh thế nên khó có thể đột nhập từ phía ngoài.

Mái dinh được lợp toàn bộ bằng ngói ống và trang trí đĩa hoa văn chữ thọ
Dinh nhà Vương rộng lớn được chia thành ba khu Tiền sinh, Trung sinh và Hậu sinh, gồm nhà khách, phòng làm việc, phòng ngủ cho các thành viên trong dòng họ, phòng ở của các gia nhân giúp việc và quân lính, nhà kho lương thực, kho vũ khí. Đặc biệt, ở khu Hậu sinh có xây dựng riêng 2 kho bằng đá phiến, mặt ngoài tường dày 1,4m, mặt trong dày 0,8m, bảo đảm đạn súng cối hay bộc phá cũng không thể xâm phạm. Một kho cất giữ vàng, bạc châu báu; một kho cất trữ thuốc phiện. Hai kho này được giao cho hai bà vợ cả và vợ hai giữ chìa khóa.

Điểm đặc biệt trong dinh thự Vương Chính Đức là hình ảnh quả anh túc chiếm vị trí nổi bật trong tất cả các chi tiết trang trí. Tất cả các phiến đá kê cột nhà, những họa tiết trang trí trên đầu kèo nhà… đều được đẽo, gọt, tiện thành hình quả anh túc.

Hình ảnh quả thuốc phiện đóng vai trò chủ đạo trong trang trí dinh thự vua Mèo
Riêng hai phiến đá kê cột nhà ở khu vực Trung sinh là đắt giá nhất, bởi sau khi mài nhẵn, chúng được dùng những đồng bạc hoa xòe đánh bóng loáng, biến đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô. Để làm được mỗi phiến đá kê cột nhà này, vua Mèo đã mạnh tay chi ra từ 800 đến 900 đồng bạc hoa xòe.

Phiến đá kê cột nhà được đánh bóng bằng 800-900 đồng bạc hoa xòe
Đây là một cách ám chỉ sức mạnh quyền lực cũng như tương lai của nhà họ Vương và của cả cộng đồng người Mông Đồng Văn lúc bấy giờ đều dựa vào cây anh túc.

Phù điêu hoa cúc chạm gỗ trên cửa 
Năm 1928, Vua Khải Định đã ban cho Vương Chính Đức một bức hoành phi đại tự có 4 chữ "Biên chính khả phong" cùng thẻ bài và mũ mão đại thần, chính thức công nhận quyền lực họ Vương ở chốn biên thùy. Cũng kể từ đó, người Mông gọi ông là Chính Vương, xem ông  như "Vua Mèo" thực thụ.

Vương Chính Đức được vua Khải Định ban cho
bức hoành phi đại tự đề 4 chữ “Biên chính khả phong”
Phần mộ của Vương Chính Đức, theo như di nguyện của ông, được đặt phía sau đỉnh núi hình tam giác nhọn, nhìn thẳng vào mặt trước dinh thự, nơi quanh năm gió lộng, mây mù vấn vít. Có lẽ ông muốn khi mình ra đi rồi vẫn có thể dõi theo cuộc sống của con cháu và sự nghiệp của dòng tộc. Phần mộ lớn nhất, nằm ngay dưới hàng cây sa mộc trước cửa dinh thự là mộ của mẹ Vương Chính Đức, được làm bằng đá, khắc công phu, cỏ mọc um tùm tươi tốt. Theo quan niệm của người Mông, phần mộ phải có nhiều cây cỏ mọc, càng sum suê thì con cháu càng được “lộc” của tổ tiên để phát triển.

Trước khi, một số hậu duệ của họ Vương vẫn sinh sống trong dinh thự, như từ khi khu tư dinh được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia thì con cháu họ chuyển ra sống ở các khu nhà quanh đó. Theo cách mạng, người Mông nơi đây cũng không còn trồng cây thuốc phiện mà chuyển sang canh tác cây ngô. Từ cây ngô, đồng bào nấu thành một loại rượu đặc sản của cao nguyên giá lạnh, đó là rượu ngô rát bỏng đầu lưỡi, chảy tới đâu ấm lòng tới đó. Khu dinh thự ghi dấu một thời vàng son của vị vua Mèo chốn biên ải trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tới thăm, để tìm hiểu về một công trình nghệ thuật độc đáo cũng như biết thêm về một thời kỳ lịch sử bi tráng của đồng bào các dân tộc vùng cao Hà Giang.

Đông đảo khách tham quan ở khu di tích Nhà Vương

Bài: Phượng Diễm, Ảnh: Phạm Jeff, P.D.


13/5/14

Nụ hôn kiểu Pháp như ý


Nếu mỗi nụ hôn là một bài thơ thì Nụ hôn kiểu Pháp là một bài thơ tình đường luật. Cũng như thơ Đường, Nụ hôn kiểu Pháp có nhiều biến thể tùy tâm trạng, tình huống, khung cảnh, sở thích và kỹ năng thực hiện. Và cũng như thơ Đường, Nụ hôn kiểu Pháp cũng có khuôn phép nhất định nhưng vẫn là mảnh đất màu mỡ để bạn tha hồ sáng tạo.
Với mong muốn giúp cho các chiến sỹ trên tình trường trau dồi kỹ năng và kiến thức, tôi đã cố gắng tìm hiểu, sưu tầm, kiểm định thực tế và biên soạn bài này để phục vụ bạn đọc. Khả năng có hạn, chắc chắn bài viết chưa hoàn hảo. Tôi rất mong sự bổ sung, góp ý của các bạn, đặc biệt là các bạn nữ. Xin chân thành cảm ơn.
1.     Thấm ướt môi: Thử tưởng tượng bạn phải hôn một đôi môi khô khốc, chắc chắn đấy không phải là một trải nghiệm ngọt ngào. Môi khô là kẻ thù của nụ hôn vì nó không di chuyển linh hoạt. Vậy hãy thấm ướt môi trước khi bắt đầu.
2.     Nghiêng đầu: Nếu hai đôi môi chạm nhau theo đúng phương thẳng đứng, dĩ nhiên bạn sẽ gặp phải sự kháng cự dữ dội của hai chiếc mũi. Vì vậy việc hai người vui lòng cùng nghiêng đầu theo hai hướng ngược nhau là bước khởi đầu hoàn hảo cho một nụ hôn say đắm ngay sau đó.
3.    Khép mắt: Hôn trong khi mắt mở trừng trừng trông rất hãi hùng. Nhưng cũng đừng nhắm mắt ngay. Hãy nhìn sâu vào mắt nhau một cách âu yếm nhất có thể. Việc này có tác dụng tương tự như bạn bấm nút khởi động máy tính. Ngay khi môi chạm môi, hãy khép hờ đôi mắt để xúc giác có thể cảm nhận được sự đắm say trong nụ hôn và để trí tưởng tượng bay bổng.
Lưu ý: Nếu hôn nhau ở công viên, thỉnh thoảng cũng cần phải mở mắt để trông chừng xe cộ. Nếu hôn nhau trước cổng nhà bạn gái, cần phải mở mắt để trông chừng phụ huynh.
4.     Khởi đầu dịu dàng và êm ái: Nếu bạn vồ lấy môi người yêu và cắn rứt kịch liệt như sói vồ cừu non thì thật tai hại. Nguy cơ chấn thương nghề nghiệp như sứt môi, rách môi là rất cao. Hãy nhẹ nhàng chạm môi vào nhau, rồi từ từ hé môi. Có thể nói Nụ hôn kiểu Pháp là một bài thơ lãng mạn, nhưng để viết được một bài thơ đẹp trước hết phải biết gieo vần. Việc bắt đầu nụ hôn bằng đôi môi khép cũng như gieo vần cho thơ vậy. Hãy tập cách bắt đầu nụ hôn bằng đôi môi khép và chắc chắn nó sẽ giúp bạn có một Nụ hôn kiểu Pháp tuyệt vời.
5.     Khêu gợi: Hôn là hành động đòi hỏi sự cho phép và thái độ hợp tác của bạn tình. Tuy nhiên, bạn không thể hôn vào môi nhau rồi tạm dừng và hỏi: Anh/em yêu, cho phép em/anh đưa cơ quan vị giác của em/anh vào trong bộ nhai của anh/em nhé? Hỏi như thế thật tởm! Vì vậy, không nên hỏi han gì cả. Đây là lúc việc khép mắt phát huy tác dụng. Một cách hoàn toàn tự nhiên, bạn sẽ nhận biết được cảm xúc của bạn tình. Việc cần làm lúc này là từ từ hé môi, dùng lưỡi lướt nhẹ lên môi bạn tình cho đến khi hai đôi môi lồng vào nhau. Nếu nỗ lực của bạn bị từ chối thì đành phải để dành vào lúc khác hoặc với người khác thôi, không nên gượng ép.
6.     Khám phá và tận hưởng: Nếu được hưởng ứng, tiếp tục mở rộng khẩu độ của môi. Thật dịu dàng, thật nhẹ nhàng đưa lưỡi của mình vào miệng bạn tình, từ từ tiến sâu hơn. Lưỡi là bộ phận rất, rất nhạy cảm và nó sẽ làm bạn gần như run lên khi hai người chạm lưỡi rồi xoắn xuýt lấy nhau. Đây chính là thời điểm mang lại cho bạn sự trải nghiệm hoàn hảo, tinh tế và ngọt ngào nhất mà một nụ hôn có thể mang lại.
Đừng cố đưa lưỡi vào quá sâu. Hãy nhớ là bạn đang hôn chứ không phải đang khoan dầu. Nếu bạn là nam giới, hãy dùng lưỡi mình lướt nhẹ, vờn quanh lưỡi người yêu, bình tĩnh chờ cô ấy phản hồi. Không được sốt ruột, phải chịu khó giúp người yêu tận hưởng cảm giác được yêu trước.
7.     Chậm rãi! Đây là điều kiện tiên quyết để thưởng thức một Nụ hôn kiểu Pháp. Không vội vã, không vồ vập như kiểu muốn ăn tươi nuốt sống môi người yêu, cũng không được khua lưỡi loạn xạ. Hãy từ từ khám phá như Robinson Cruso khám phá đảo hoang.
8.     Thở: Đừng vì quá say đắm mà nín thở. Dĩ nhiên là nó không thể dẫn đến tử vong nhưng nó sẽ buộc bạn phải kết thúc nụ hôn sớm hơn mong muốn. Vì vậy, phải tập thở bằng mũi một cách đều đặn và nhẹ nhàng. Đừng phì phò nhưng xông hơi người yêu. Nếu cả hai cùng thích thì có thể thở bằng mồm. Đối với một số người, chia sẻ hơi thở cũng là một điều thú vị nhưng kinh nghiệm cho thấy, rất ít người thick kiểu này.
9.     Sử dụng đôi tay: Nếu bạn muốn đôi tay mình hành xử một cách lịch sự, nhất là trong nụ hôn đầu tiên, thì cũng không cần phải để chúng thõng thượt hai bên sườn. Hãy siết nhẹ bạn tình. Nhẹ nhàng thôi nhé. Hãy nâng khuôn mặt của cô ấy/anh ấy, ve vuốt nó, luồn tay vào tóc để người ta cảm thấy tình yêu trong bạn đang ngập tràn. Hoặc có thể một tay vòng qua eo, một tay nghịch tai của bạn tình. Hiệu ứng của động tác này có thể nằm ngoài sức tưởng tượng của bạn đấy. Điều rất cần thiết là hãy để đôi tay bạn làm gì đấy, đừng quá gò ép nó!
10. Kết thúc: Hãy kết thúc nhẹ nhàng, chậm rãi. Sau khi rời khỏi môi nhau thì nên tiếp tục nhìn vào mắt nhau, giữ nguyên vòng tay, lắng nghe nhịp đập của trái tim và thì thầm một câu gì đấy thật lãng mạn. Dĩ nhiên là có thể hét toáng lên nếu phát hiện mất xe.
Lưu ý:
          + Không có hai nụ hôn giống hệt nhau nhưng đừng vì thế mà thiếu sáng tạo. Hãy cố gắng sao cho mỗi lần hôn của bạn là một trải nghiệm khác nhau. Độ dài của nụ hôn, chiều sâu của cảm xúc, mức độ tập trung và các hành vi bổ trợ của mắt, tay là những điểm cần quan tâm. Hãy phát triển cho riêng mình một phong cách! Nhưng đừng bao giờ áp dụng một phong cách cho tất cả các bạn tình.
          + Trong khi hôn, hãy tập trung cảm xúc vào nụ hôn và thông qua đó, đọc ngôn ngữ cơ thể của bạn tình để có phản hồi thích hợp. Hôn là hành động cho và nhận, đừng biến mình thành kẻ ích kỷ chỉ biết tận hưởng.
          + Trong khi hôn, rất có thể sẽ có một lượng nước bọt đáng kể. Phản ứng thế nào? Nuốt thôi, chả sao cả. Nhưng nếu bạn gặp khó khăn thì dừng hôn vài giây cũng không ảnh hưởng gì.
          + Cuối cùng: Sâu răng, tỏi, mắm tôm - thịt chó, sầu riêng v.v chắc chắn sẽ là rào cản không thể vượt qua. Vì vậy, vui lòng vệ sinh kỹ lưỡng trước khi gặp người yêu.
          Ôi, đáng tiếc là răng giả cũng rất nguy hiểm. Răng giả có thể gây “hóc răng”, nghẹt thở dẫn đến tử vong. Nếu răng giả rơi ra và vẫn ở trong khoang miệng thì cũng không tốt vì sẽ gây tiếng động khi chạm vào răng thật làm mất hứng. Tốt nhất là thà móm để được hôn – tháo răng bỏ túi!!!

Phạm Bằng Tiến

7/2/14

Bún cá rô đồng



Bún cá rô đồng ở Mỹ Hào, Hưng Yên
Ảnh: Hàn Giang
Lâu rồi, đâu như cách đây mươi lăm năm, mình chầu chực ở Văn miếu hai tiếng để xin chữ của cụ Cung Khắc Lược. Sau chừng 15, 20 phút nói chuyện và ngắm nghía, cụ viết tặng mình chữ "lưu" (流). Chừng ấy năm trôi qua, cụ Lược không rõ có còn viết chữ chăng. Cái thằng mình thì đúng như cụ đoán, phiêu bạt tang bồng, như dòng nước chảy mãi về đông, bao thác bao ghềnh mà chưa thấy bến. Ấy nhưng cũng nhờ thế mà mình được ăn vài thứ ngon.


Năm kia, trong lần thứ n xuống Hải Phòng, mình được cậu Tuấn, nguyên là tay lái xe tải cự phách tuyến Hà Nội - Hải Phòng mời ăn bún cá rô đồng Mỹ Hào. Đấy là một quán nhỏ, dở tỉnh dở quê, trong xếp chừng mươi bộ bàn ghế. Trước quán có cây trứng cá. Bên kia cửa quán, đối diện với cây trứng cá là cô chủ quán chè chén mỏng mày hay hạt. Cách quán khoảng 5 mét có một con bò vàng. Mình toàn lấy con bò làm mốc để tìm quán. Có lần đi ngang không thấy nó đâu đành phải ôm bụng đói xuống tận Hải Phòng ăn tạm bánh mì cay. Khổ!

Dạo này quán đã có địa chỉ. Vả lại, mình chuyển sang lấy cô chủ quán nước làm mốc nên cũng dễ tìm. Phải nói đây là đệ nhất rô đồng danh quán. Bún, cá, nước dùng ở đây vượt xa những quán khác mà mình đã từng ghé qua dọc đường thiên lý.

Rô đồng vốn là giống xương cứng, có lẽ vì ưa nước ngược. ... Tầm tháng 10, tháng 11 chính là khoảng thời gian chúng béo nhất. Ra chợ, chọn những con chừng hai ngón tay, nhìn nghiêng hơi có ánh vàng vì tích được nhiều dưỡng chất. Đừng chọn con to quá, to quá không vừa miếng mà bé quá thì ít thịt. Dứt khoát phải chọn nhưng con còn sống khỏe. Thậm chí có những con hớn hở đến độ dường như chúng còn toét miệng cười đùa với ta. Cá còn sống thì máu vẫn chảy rần rật trong huyết quản, thịt ngọt, thơm và chắc. Chọn cá xong, đưa đẩy với cô hàng đôi câu, nhờ cô ấy đánh vảy thật sạch, làm thật tinh tươm. Mà nhớ, trước khi chọn cá phải chọn cô hàng thật tươi tắn, thật xởi lởi để mua thì về ăn mới ngon. Giao tiếp chân tình và vui tươi chính là gia vị tuyệt hảo của món ăn. Thế rồi ta tung tăng xách cá ra về, thoảng đâu trong gió vẫn còn tiếng cười giòn tan, vẫn còn vương cái đuôi mắt đa tình của cô hàng chợ.

Rửa sạch, luộc chín, vớt ra để ráo nước và da cá hơi se lại. Trong khi chờ đợi, ta lượn ra vườn nhổ lấy ít cải cay, bẻ quả ớt, vơ thêm ít gia vị, đào lấy ánh gừng ... Quay trở vào, khẽ khàng tách lấy thịt cá. Toàn bộ xương, đầu giã ra cùng nửa quả ớt. Nhớ là giã, đừng xay. Xay mịn sẽ khó gạn. Cũng đừng tham nhiều ớt. Nhiều quá sẽ cay, chỉ nửa quả thôi, đủ để xuất hiện vị the the nơi đầu lưỡi. (Nhớ ớt xanh xứ Quảng đến trào nước mắt.) Đun sôi cùng nước luộc cá ban đầu, gạn lấy nước trong để làm nước dùng. Nêm nếm vừa phải.

Phần thịt cá, ta mang trộn chung với gia vị rồi rim lên, sao cho miếng cá se lại, dùng đũa hất nhẹ không gãy. Nếu nhiếp ảnh là nghệ thuật của ánh sáng thì nấu ăn là nghệ thuật của lửa. Đừng để lửa to quá kẻo cá bị rốc, miếng cá cứng mà xác xơ, ăn vừa không ngon vừa mất đi vẻ thanh tao. Lửa liu riu, liu riu, vừa đủ để gia vị thong thả ngấm vào thớ thịt cá bên ngoài.

Trời tháng mười se lạnh, tụ tập dăm ba anh em, đôi chén rượu đàm văn luận ngữ, men rượu ngà ngà, bóng trăng lạnh rèm tre phơ phất, tay bê bát bún rô đồng nóng giãy, thịt cá béo ngậy, nước dùng thanh thanh, nghe thoang thoảng mùi thơm của hành, của thì là, của đất bùn đồng chiêm. Chừng như ... chừng như ... nghe cả tiếng mưa rào đầu hạ, chú rô ron rạch nước sang đồng; tiếng của ta ngày xưa niên thiếu, tay lấm lem vuốt mặt hứng giọt nguồn.

Ôi, cái phong vị đồng quê trào lên da diết.

Khuyến cáo những gã trai có vợ:

- Hãy tự nấu để thể hiện tình yêu với vợ. Còn gì hạnh phúc hơn với chính ta khi nàng hùng hục ăn bún, thỏ thẻ khen ngợi và hừng hực tưởng thưởng cho ta khi lũ bạn đã cắp đít đi về, khi con đã ngủ và ta thì đã đánh răng.
- Hãy tự nấu để chiêm nghiệm thứ triết học đồng quê của lửa và nước, của cá rô và rau cải, của thì là và húng, của âm của dương hòa quyện và thăng hoa.
- Hãy quên đi cô hàng cá có đôi mắt lá răm. Quên ngay tắp lự!


Hàn Giang

29/12/13

Vị quê


 Hàn Giang

Thịt ba chỉ nướng bằng xiên tre tươi
Ảnh: Hàn Giang
Phàm là thịt lợn nướng cứ phải sườn hoặc thịt ba chỉ mới đáng gọi là số một. Trời lạnh thế này mà cắn miếng thịt nướng ấm vị riềng, nhấp ngụm rượu, cùng chiến hữu bàn luận chuyện nhân tình thế thái, thật không gì thú bằng.

Sáng sớm xuống chợ huyện mua ít thịt lợn đen. Giống này thịt chắc mà thơm. Mỡ trắng đục, khi chín thì giòn chứ không nhão nhoét toàn nước như giống lợn công nghiệp ở xứ ta bây giờ. Thịt mua về thái từng miếng nhỏ, tầm ngón chân cái. To quá thịt chín không đều mà bé quá thì dễ bị xác vì mất nước. Ướp mắm, muối, riềng, mẻ và các loại gia vị. Riềng phải là loại trồng ở đất đồi, củ vừa phải, vị thơm nồng, ướp vào thịt nghe dậy lên mùi quê hương, ấm như lần đầu cầm tay con gái. Lại nói chuyện thịt ngon, ướp đúng vị rồi mà nướng bằng lò điện hay bằng vỉ sắt thì quả là không xứng. Nướng thịt đúng chất đồng quê là phải có than hoa và xiên tre. Tìm lấy một thanh tre tươi độ nửa mét, pha thành từng que nhỏ, dùng rựa sắc mứt nhọn một đầu.

Chọn một chỗ khuất gió nhưng đừng kín quá, bày một mâm rượu be bé. May mắn mà có được thứ rượu San Lùng chính hiệu Bát Xát thì đúng là tuyệt hảo.

Chọn chỗ, bày mâm, gầy than, rót rượu. Rồi thì kẻ quạt, người xoay, chả mấy chốc mà mỡ từng giọt, từng giọt nhỏ xuống. Nước từ trong xiên tre ngấm dần vào thịt. Mùi thịt mỡ cháy khen khét, mùi riềng ấm sực, mùi mắm tôm dậy lên đốt cháy tì vị. Hai tuyến nước bọt của ta lúc ấy phải nói là làm việc cật lực. Nhấp một ngụm rượu. Gió đông thổi đến. Mấy anh em vừa xuýt xoa vừa nhấc chiếc xiên nóng lên, cắn ghé vào miếng thịt rồi tuốt dọc xiên. Toàn bộ vị giác hưởng trọn vị ngọt của thịt, vị ngầy ngậy của mỡ, cái nồng nàn của riềng, cái đậm đà của mắm tôm đất bắc. Chao ôi, ngọt chi cho bằng vị quê.


3/9/13

Bánh mỳ kiểu Thổ

Hàn Giang


Kebab @ Kebab Shop
Cái bánh mỳ doner kebab, trông đơn giản thế nhưng sau nó là cả một câu chuyện dài. Lần đầu Jeff trông thấy nó là ở châu Âu, kiều dân Thổ bán đầy ở các chợ phiên miền nam Đức. Hồi đó, trong mắt mình, kebab còn lâu mới đuổi kịp bánh mỳ xá xíu Đà Nẵng. Bẵng đi một thời gian, bỗng dưng lại thấy kebab giữa lòng Hà Nội. Có lẽ là du học sinh và công nhân từ Đức mang về. Xưa, người Thổ vốn thuộc giống Đột Quyết (Göktürk) sống du mục trên các thảo nguyên bao la Trung Á. Vó ngựa và gươm cong của họ tung hoành khắp vùng đồng cỏ. Họ từng lập nên Hãn quốc Đột Quyết với cương vực kéo dài từ bắc Trung Quốc ngày nay đến tận biển Caspi. 

Dân tộc cả đời trên lưng ngựa này sinh tồn và phát triển nhờ chăn nuôi và săn bắn. Mùa xuân, khi đồng cỏ xanh tươi mơn mởn, hàng ngàn, hàng vạn con dê vàng đã bắt đầu béo mẫm cũng là lúc những kỵ sĩ Đột Quyết khởi động mùa săn. Khi mây chiều rũ xuống chân trời, khi thảo nguyên mênh mông rực lên ánh dương quang hấp hối là thời điểm buộc ngựa, nổi lửa, lột da dê. Mỗi người một đùi, một dao, khía từng khía mỏng, rắc muối rồi quay tròn trên lửa. Thịt chín đến đâu, họ lạng ra ăn đến đấy. Rượu uống ngụm lớn, thịt cắn miếng to. Vừa ăn, vừa tiếp tục khía thịt, rắc muối, từng giọt mỡ dê rơi xuống, quyện vào khói, thơm nức, lan dài trên thảo nguyên tinh khôi.

Thế kỷ XIII, XIV, những binh đoàn thiết kỵ Đột Quyết xâm nhập Tây Á, đánh tan cả Đông La Mã lẫn Ba Tư, dựng nên đế quốc Ottoman rộng lớn. Trên dặm dài chinh chiến lập quốc, họ không chỉ mang theo gươm cong, rượu sữa ngựa mà còn mang theo thói quen nướng thịt ăn dần – nét vũ dũng của người Thợ săn – Kỵ sĩ. Ngày tháng dần qua, kiểu nướng thịt ăn dần biến tướng thành trụ thịt quay, rồi kết hợp với bánh mỳ châu Âu để thành Kebab.

Cầm trên tay chiếc bánh mỳ kebab là bạn chuẩn bị thưởng thức không chỉ bánh mỳ mà còn cả nền văn hóa của một dân tộc oai hùng.