Chuyện phố đổi sang địa chỉ mới "chuyenpho2.blogspot.com"

6/6/14

Hoàn kiếm tước binh quyền


Đêm.

Trăng chênh chếch soi qua song cửa. Người đàn ông trung niên vẫn ngồi lặng lẽ bên bàn viết. Như là từ rất lâu rồi. Ánh sáng của ngọn bạch lạp soi rõ khuôn mặt cương nghị, đôi mày nhíu lại rồi giãn ra. Dường như ông đang suy nghĩ rất lung. Đất nước đã sạch bóng thù nhưng trăm họ qua cơn chiến chinh vẫn còn lầm than. Triều chính còn đấy trăm ngàn mối lo. Ông biết, triều cương chưa yên thì công cuộc kiến thiết quốc gia khó lòng làm nổi. Gương tày liếp của cha con Đinh Tiên hoàng năm xưa hiện rõ trong đầu ông như vừa mới xảy ra ngày hôm qua. Con trai trưởng của ông, Hữu tướng quốc Tư Tề, tuy công lao lừng lẫy, thao lược gồm tài nhưng tính tình nóng nảy lại hơi kiêu ngạo. Nói dại, nhỡ đâu ông có mệnh hệ nào thì Tư Tề liệu có cầm cương được cỗ xe Đại Việt đang còn chệnh choạng? Hoàng tử Nguyên Long thì hẵng còn bé. Các tướng lĩnh như Phạm Văn Xảo, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú, Lê Sát, Trần Nguyên Hãn ... cũng đầy công lao hãn mã, binh quyền lại nắm trong tay, ra vào cung cấm vẫn được mang vũ khí. Ông thấy nguy hiểm. Họ thần phục ông. Họ đã từng vì ông, vì trăm họ Đại Việt mà vào sinh ra tử nhưng lòng người khó dò. Mấy ai trên đời vượt qua được sự mê hoặc của quyền lực và danh lợi. Chẳng phải Điện tiền Chỉ huy sứ Lý Công Uẩn đã lấy ngôi nhà Lê, chẳng phải Lý Sảm đã mất ngôi vào tay anh em Tự Khánh, Thủ Độ đấy sao. Toàn những kẻ nắm binh quyền trong tay, nhân lúc loạn lạc mà đoạt ngôi, tranh vị. Không! Mười năm nếm mật nằm gai mới có được hôm nay. Đất đai là của ông, thần dân là của ông, vương quyền chỉ có thể là của ông. Không thể sơ suất. Đa nghi vốn dĩ là thuộc tính của kẻ làm chúa.

Ông đứng dậy, đi đi lại lại trước bàn viết. Tiếng gà đâu đó trong hoàng thành vẳng lại nhắc ông đêm đã đến canh ba. Ông vẫy tay, sai người gọi Tư Tề sang gặp ông ngay. Hai ngày nữa thủy quân sẽ thao diễn ở hồ Thủy quân. Toàn bộ tướng lĩnh Lam Sơn sẽ tham dự, toàn bộ dân chúng kinh thành sẽ tề tựu để chứng kiến sức mạnh của đoàn quân chiến thắng.

Có tiếng võ phục loạt soạt.

- Áng![1]

- Con vào đây ta có việc cần bàn.

- Thưa, con đã sai người chu toàn mọi việc cho buổi duyệt thủy binh. Áng còn điều chi cần kíp?

- À, không. Con khá biết câu chuyện chén rượu năm xưa của Triệu Khuông Dẫn?

Tư Tề chăm chăm nhìn cha, thoáng rùng mình. Thực ra việc này chàng cũng đã nghĩ nhiều nhưng lòng còn e sợ bị khép vào tội bất nghĩa nên chưa dám bẩm báo. Tuy chàng và nhà vua là tình cha con nhưng các tướng lĩnh nghĩa quân đối với cha con chàng ân nghĩa tày non. Mười năm kề vai sát cánh, chàng chưa thấy cha có điều chi không hài lòng về họ. Giờ cha đã nói thế này có lẽ ý ông đã quyết, chỉ là cần bàn thêm về mưu kế thực thi. Làm không khéo e lại đẩy trăm họ vào cảnh nồi da xáo thịt. Xét cho cùng, ngôi vị đế vương kia, một mai cũng là của chàng.

Tư Tề khẽ gật đầu với cha rồi quay người lệnh cho lính hầu lui ra ngoài. Chàng tự mình cẩn thận khép cửa. Tiếng sấm từ xa nổi lên ầm ì. Có lẽ trời sắp dông.

***

Tranh minh họa của tựa game Thuận Thiên kiếm
Mặt trời đã lên độ chừng một con sào. Cả không gian ánh vàng như mật. Mới đầu hạ nên tiết trời hẵng còn mát mẻ. Nước hồ Thủy quân dềnh lên, chung quanh hồ cờ xí tở mở, chiêng trống rộn ràng. Trên hồ, chiến thuyền xếp dài ngút mắt. Đức vua lẫm liệt đứng trên lâu thuyền, tấm chiến bào nhẹ bay trong gió. Sau lưng ông là khoảng trên chục viên văn quan võ tướng đầu triều. Tất cả đều nai nịt gọn gàng, kiếm đeo trễ bên hông. Cạnh ông, hơi lùi sau một chút là Tư Tề. Nét mặt căng thẳng.

Mặt nước hồ hơi xao động. Đúng lúc buổi diễu binh sắp bắt đầu, trăm quan đang quỳ xuống tung hô thì bỗng tiếng Tư Tề vang lên:

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Thần Kim Quy hiển linh!

Chưa ai kịp định thần thì thanh kiếm Thuận Thiên lừng lẫy đã từ tay nhà vua bay xuống mặt hồ.

- Giặc đã tan. Kiếm lệnh từ nay xin hoàn!

Dứt lời, Đức vua Thuận Thiên quỳ phục xuống, dập đầu tạ ơn thần Kim Quy. Quan văn, tướng võ nhìn nhau ngơ ngác. Viên Tả kim ngô vệ Đại tướng quân Phạm Vấn hô lớn:

- Đức Hoàng thượng muôn năm!

- Muôn năm! Muôn năm! Muôn năm!

Tiếng hô vang vọng kéo dài suốt mặt hồ. Tư khấu Lê Sát tiến lên vài bước, quỳ xuống, hai tay nâng thanh kiếm trận lên quá đầu.

- Cẩn tấu Đức Hoàng thượng! Đất nước đã thanh bình. Kẻ tôi tớ này vui mừng vì không còn cần phải xông pha trận mạc. Từ nay, tôi xin được trả lại kiếm trận, trả lại quyền điều động quân đội để rảnh rang giúp Đức Hoàng thượng kiến thiết nước nhà. Cẩn xin Đức Hoàng thượng chuẩn tấu!

- Tư Tề thay ta nhận kiếm. Quan Tư khấu đứng dậy đi.

Không ai bảo ai, lần lượt Đại tướng quân Phạm Vấn, Thái bảo Phạm Văn Xảo, Tư mã Lê Ngân, Trần Nguyên Hãn, Nguyễn Chích, Lưu Nhân Chú v.v đều tháo gươm dâng trả ngay tại lâu thuyền. Tư Tề chuyên chú vào việc nhận kiếm và xếp thành một hàng trên chiếc kệ vừa được hai chú lính bê từ trong khoang ra. Không ai nhận ra Lê Sát lúc bấy giờ lùi lại sau, liên tục liếc trộm Tư Tề, ánh mắt đầy dò xét.

Ba ngày sau, nhà thuyền chài họ Mạc bắt gặp một con rùa lớn, dài đến bốn, năm thước ta nổi lên giữa hồ. Tin truyền vào cung, Tư Tề chỉ tủm tỉm cười, lẳng lặng thưởng thêm cho viên gia tướng thân tín hai mươi nén bạc. Lê Sát cũng nghe chuyện vào lúc tan buổi chầu. Mặt thoáng chút hồ nghi nhưng lại ngay lập tức nói nói cười cười, rằng vận nước chắc đang hồi hưng vượng nên thần Kim Quy mới hiện thân phò hộ.

Buổi chầu kế tiếp, Khu mật Viện chính thức công bố sắc lệnh của nhà vua về việc cấm võ tướng mang vũ khí vào triều đồng thời thu hồi các lệnh phù điều động quân đội.

Đầu năm Kỷ Dậu (1429), Trần Nguyên Hãn trẫm mình ở bến Sơn Đông.

Tháng … năm … Phạm Văn Xảo bị bức tử trong nhà lao.

Tháng … năm … Nguyễn Chích bị bãi chức.

Tháng 8 năm Quý Sửu (1433), Lê Tư Tề bị tước bỏ ngôi vị Thái tử, giáng xuống làm Quận vương.

Cuối tháng đó, Đại tư đồ Lê Sát nhận di chiếu, phò Thái tử Nguyên Long 11 tuổi lên ngôi.

Mùa đông, tháng Một[2] năm Thuận Thiên thứ tư, Nguyễn Trãi chép chuyện Đức vua trả gươm cho thần Kim Quy vào sách Lam Sơn thực lục[3]. Cũng từ đó, câu chuyện trả gươm chính thức trở thành huyền thoại có thật.

Hàn Giang





[1] Tiếng gọi cha trong ngôn ngữ Việt cổ.
[2] Xưa, năm âm lịch được tính từ tháng giữa mùa đông; bắt đầu từ Một, Chạp, Giêng, Hai … cho đến tháng Mười là tháng cuối năm.
[3] Theo dịch giả Bảo Thần tại bản dịch Lam Sơn thực lục do NXB Tân Việt ấn hành năm 1956 (in lần thứ ba) thì câu chuyện trả gươm được thêm vào từ lần biên soạn, chỉnh lý năm Vĩnh Trị thứ nhất dưới thời vua Lê Hy tông.


16/5/14

Nhìn lại Huế từ dặm dài Ô Lý


1. Có hay không một vương quốc Champa thống nhất


Có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta dừng lại việc nhìn nhận vùng đất Trung bộ và nam Trung bộ Việt Nam, như những loại "chiến lợi phẩm" trong cuộc đối đầu giữa Đại Việt với một vương quốc Champa lân bang, nguyên vẹn và thống nhất trong lịch sử.
Một thời, việc nghiên cứu Champa với tư cách là một vương quốc tập quyền hình thành vào năm 192 và trải dài trong suốt nhiều thế kỷ đầu Công nguyên của Trung Quốc, như Thuỷ Kinh Chú, Lâm Ấp Ký, Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư, Đường Thư,... đã trở thành những nguồn tài liệu quan trọng, dẫn dắt các nhà nghiên cứu nhiều nước xích lại gần nhau trong quá trình biện dẫn sự ra đời của nhà nước Lâm Ấp từ cuộc nổi dậy của Khu Liên, nhân vật (nhóm người?) đã giành độc lập từ tay nhà Hán ở vùng đất Nhật Nam xa xôi so với tầm tay quản lý của "thiên triều".
Những khuôn mặt Champa học lớn ở phương Tây như H.Maspéro, L. Aurousseau, E.Aymonier, L.Finot, H.Parmentir, G.Coedès, J.Y. Clayes, R. Stein với những lập luận ít nhiều có tính xác quyết tiến trình hình thành nhà nước Champa, đã ảnh hưởng không nhỏ đến các học giả ở trong nước lẫn các nhà chuyên môn thuộc lớp hậu duệ ở Bắc Mỹ, Đông Á  và châu Âu sau này.
Sự hình dung ít có nghi vấn về một vương quốc có tên Lâm Ấp (192-758) à Hoàn Vương (758-866) à Chiêm Thành (886-1471) à Champa, thống nhất từ đèo Ngang đến hết vùng nam Trung bộ với tộc người Chăm chủ thể thuộc ngữ hệ Malayo-Polynesie, đã trở thành đầu mối cho những lập luận có liên quan đến nhiều công trình nghiên cứu về nhân học, lịch sử, chính trị, khảo cổ, kiến trúc, nghệ thuật học về Champa.
Trong chừng một vài thập niên trở lại đây, với sự bổ sung của nhiều nguồn tư liệu, nhất là sự mở rộng đối sánh theo dạng cấu trúc mô hình xã hội trên phạm vi khu vực Đông Nam Á của các nhà khoa học, cùng với những thông tin được giải mã một cách hợp lý giữa nội dung một số văn khắc cũng như các hiện vật khảo cổ học mới phát hiện bổ sung..., một số tác giả như B. Bronson, R. Hall, O.W. Wolter, R.Nakamura ....[1] và gần đây nhất William Southworth trong luận án tiến sĩ (2001) với đề tài The Origins of Champa in Central VietNam (Những nguồn gốc của Champa tại miền Trung Việt Nam) hoặc Le Vietnam des Royaumes (Việt Nam những vương quốc)[2] đã có những nhận định làm cho việc nghiên cứu Champa và dải đất Trung bộ- nam Trung bộ và Tây Nguyên đương thời cần phải được nhìn nhận lại.
Có thể nói một cách không ngần ngại là chưa có một tài liệu nào chứng minh được một cách thuyết phục sự hiện hữu của Champa trong lịch sử với tư cách là vương quốc thống nhất, với sự quản lý tập quyền từ một kinh đô duy nhất, mà ngược lại, người ta chỉ có thể nhận ra ở đây chân dung của sự sống chung, phân ly, liên kết, thống trị, bị trị, cát cứ, độc lập tương đối... giữa nhiều tiểu quốc, bao gồm không ít những tộc người có nguồn gốc và ngữ hệ khác nhau. Mô hình Mandala (tiểu quốc) mà các tài liệu phương Tây thường gọi là Circles of kings, là một tổ chức nhà nước dưới những cấp độ về quy mô và có cấu trúc kinh tế-xã hội-chính trị- thần quyền khá phổ biến ở vùng sử liệu, kể cả văn khắc bi ký của từng triều đại, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy thông tin liên quan đến các thị tộc Cau-Dừa, dòng Núi-dòng Biển, Bắc Chăm, Nam Chăm, các tên gọi chỉ cương vực địa lý chính trị như Amaravati, Indrapura, Vijaya, Kauthara, Panduranga... với sự tôn vinh và ngợi ca các vị thần toả ảnh hưởng trong lãnh địa của mình. Những dấu hỏi về Phù Nam, vương quốc Mạ ở thượng nguồn sông Đồng Nai, hàng loạt di tích Án giáo ở Tây Nguyên, vương quốc Koom và nhóm Katuic ở miền núi Trung bộ, đều tỏ ra, ít nhất, là trong những thông tin hiện có, không hề biểu thị bất cứ tính liên kết hữu cơ máu thịt nào với một vương quốc mẹ trong một thể thống nhất.
Với xu hướng mới trong việc tiếp cận nghiên cứu vùng đất Champa xưa như đã nêu, ngày càng có nhiều công trình đề cập đến những lập luận thuyết phục hơn về hình ảnh các tiểu quốc sống song song tồn tại bên nhau với những thăng trầm và đầy biến động; có thời kỳ một tiểu quốc đủ sức mạnh bành trướng thế lực, lại khống chế những tiểu quốc khác, và khu lịch sử sang trang, hiện tượng ấy có thể bị đảo ngược. Chính vì vậy, các thuật ngữ như Raja, Campadhipa, Haharaja, Rajadhiraja... trong bi ký Chăm nhằm chỉ thị uy quyền được tôn vinh: vua, vua vĩ đại, vua của các vị vua như một cách xác định thế lực của từng tiểu quốc trong những thời điểm cụ thể.
Chúng ta có thể xem triều đại Indrapura trong lịch sử là một thí dụ dẫn chứng. Ảnh hưởng của Indravarman I, người đăng quang và khai sáng triều đại Indrapura (875-972) đã toả ảnh hưởng của mình từ nam Quảng Nam đến tận Quảng Bình với một tiểu quốc gồm nhiều tiểu quốc bị khống chế, tạo nên dấu ấn Phật giáo khá đậm nét trong lịch sử.
2. Ô Lý trong cuộc chuyển dịch về phương Nam của người Việt
Trong lịch sử phong kiến luôn phản ánh chất đa sách lược của Đại Việt trong bang giao với các nước lân bang, lẫn cả trong đối nội với những khu tự trị ở các tộc người thiểu số: phủ dụ, trừng phạt, răn đe, liên kết hữu nghị, bắt cầu su gia... Ô và Lý là món sính lễ có được giữa Sihavarman III (Chế Mân) và Trần Anh Tôn qua chuyến viễn du công cán dài ngày trên vùng đất Chăm của Trần Nhân Tôn, tất cả chỉ là hệ quả của thực tế không cưỡng lại được, đó là sự đối trọng không cân xứng giữa một nhà nước quân chủ tập quyền, tồn tại trên cơ sở nông nghiệp với những tiểu quốc lấy thương nghiệp trao đổi làm trụ cột. Giáo sĩ và thương nhân ở các tiểu quốc là hai thế lực làm chủ những cửa sông lẫn biển và phát huy uy lực bằng kinh tế hàng hoá, mỗi cửa cảng chịu sự quản lý của một tiểu vương mà cương vực của ông ta được xác lập trên một trục theo dạng cấu trúc cảng biển, sông thiêng, núi thiêng, đất thiêng với tính chất này, đã làm sự gắn bó giữa họ, kẻ nắm quyền lực trong tay với đất đai không mặn mà như người làm nông và những vương quốc lấy nông nghiệp làm trọng. Đất hứa của những người có quyền lực ở những tiểu quốc Chăm là sản vật, hàng hoá, thị trường và mãi lực... Cho nên, họ sẵn sàng ra đi với gia sản gọn nhẹ trên chiếc thuyền buôn, để tìm một thị trường ổn định hơn khi tình hình chính trị, quân sự không còn thuận lợi cho nghề nghiệp kinh doanh của họ. Kẻ ở lại là những người nông dân, dễ dàng hoà nhập với người đến sau trong điều kiện đất rộng người thưa. Những di tích Ấn Độ giáo, lễ vật tạ ơn từ những món lợi nhuận của giới thương nhân quý tộc là những đền tháp và di tích tôn giáo khác cũng chóng trở thành những điểm "kính nhi viễn chi" trong quan niệm của họ. Sự kế thừa tiếp nối việc thờ cúng đã vì thế không xảy ra, mặc dù, cuộc bàn giao hữu nghị vùng Ô, Lý cho Đại Việt đã không tạo nên sự xáo trộn dân cư lớn. Tài liệu Thỉ Thiên Tự của Bùi Trành vào đầu thế kỷ XV ở vùng Trị Thiên mà chúng tôi có dịp công bố đã cho chúng ta hình dung được hiện tượng này[3].
Đền thờ Huyền Trân Công Chúa tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế

Đôi rồng trong đền, được xem là lớn nhất Việt Nam
Cuộc chuyến dịch dân cư về phía Nam của người Việt từ bối cảnh này chẳng quá khó để giải thích tại sao lại nhanh chóng và yên ả đến thế.
Trong bài viết khá thuyết phục “Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu quốc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành khoảng giữa thế kỷ 11-15” của Trần Kỳ Phương[4] đã cho chúng ta thấy ít nhất có 6 tiểu quốc tồn tại ở Bắc miền Trung vào thời kỳ này: Vijaya (Bình Định), Amaravati (Quảng Nam), Ulik (Trị Thiên), Jriy (Đồng Hới) và Traik (Bố Trạch-Quảng Bình).
Ulick mà sau này sử Việt đổi là Ô Lý chính là một trong những tiểu quốc nằm trong vùng khống chế của Simhavarman III đã được bàn giao cho người Việt một cách nhẹ nhàng mà Huyền Trân công chúa, trong trường hợp này, đã là hoặc chỉ để làm thi vị hoá, lãng mạn hoá một sự kiện chính trị và bang giao không thể thay đổi của tình hình đương thời. Việc trở lại Thăng Long và không lên dàn hoả thiêu cùng chồng đã tự nó giải thích ý nghĩa tình huống bi ai này. Nhưng dù sao Huyền Trân vẫn là một nhân vật lịch sử làm cho vận mệnh đất nước nói chung và xứ Huế có được một giai thoại đẹp đẽ, thi vị, thơ mộng như chính cảnh sắc và con người nơi đây.
Nguyễn Hữu Thông
(Trích trong 700 năm Thuận Hoá-Phú Xuân-Thừa Thiên Huế)



[1] Xem các tài liệu:
- Bronson. B (1977), Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Note Toward a Funtional Model of the Coastal State in Southeast Asia: Perspectives from Prehistory, History and Ethnography [Huteerer, Karl L.ed]. Ann Anbor: Center for South and Southeast Asia Studies. The University of Michigan. USA.
-Hall R.K (1999), Maritime Trade and Early State Development in Southeast Asia, Honolulu: University Washington: Departent of Anthropology.
-Nakamura Rie (1999), Cham in Vietnam: Dynamics of Ethnicity (Ph.D dissertation) University Washington, Department of Anthropology.
-Wolter O.W (1982), History, Culture and Religion in Southeast Asia Perspective, Singapore: Istitute of Southeast Asia Studies.
-Schweryer A.V (1999), La vaisselle en argent de la dynastie d'Indrapura (Quang Nam-Vietnam), Bulletin de I'Ecole Francaise d' Extreme-Orient.
-R.C. Majimdar (1985), Champa: History and Culture of an Indian colonial kinhdom in the Far East 2sd-16th century AD, Dehli: Gian Publisher House.
-"Champa", trong The Cambridge History of Southeast Asia, vol. 1 [From Early time to C. 1800], Cambrdge: Cambrdge University Press.

[2] Cercle d'Art (1995), Le Viet Nam des Royaumes, Paris: Cercle d'Art. và William A.Southworth (2001), The Origins of Champa in Central Vietnam (A preliminary Review), London: The School of Oriental & Africa Studies (SOAS).

[3] Nguyễn Hữu Thông (1996), "Bức tranh cư dân vùng Thuận Hoá đầu thế kỷ XV qua văn bản Thi thiên tự", T/c Thông tin Khoa học Công nghệ& Môi trường Thừa Thiên Huế, số 04.

[4] Trần Kỳ Phương (2005), "Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu quốc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành khoảng giữa thế kỷ 11-15", T/c Nghiên cứu & Phát triển, Huế: Sở Khoa học&Công Nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế, số 1.

14/5/13

Về bạt văn của dịch giả Mạc Bảo Thần

Hàn Giang

Dưới đây là vài suy nghĩ của tôi sau khi đọc tác phẩm Lam-sơn Thực-lục do cụ Mạc Bảo Thần dịch, NXB Tân Việt ấn hành năm 1944

Việc chú giải và viết lời bạt của dịch giả cho thấy cụ đã nghiên cứu rất kỹ các văn bản trong sách này và các văn bản liên quan. Tóm lược, cụ Mạc Bảo Thần có ba nhận định:
1. Các đoạn in khác kiểu trong Lam-sơn Thực-lục là do người đời sau thêm vào.
2. Tác phẩm Lam-sơn Thực-lục và Văn bia Vĩnh-lăng là do Nguyễn Trãi soạn.
3. Vì đức khiêm tốn mà cụ Nguyễn Trãi không tự nhận mình là bậc “khai quốc nguyên huân”.

Về nhận định số 1, do người đọc không biết chữ Hán nên không dám có ý kiến gì. Đối với các nhận định sau, thiết tưởng có nhiều vấn đề cần bàn thêm. Để vấn đề đỡ loãng và để tránh việc tham chiếu quá rộng, đồng thời tôn trọng ý kiến của cụ Mạc Bảo Thần, người đọc chỉ khoanh vùng tài liệu tham chiếu trong nội dung cuốn sách này, gồm:
-       Tựa của Lam-sơn Thực-lục
-       Lam-sơn Thực-lục
-       Bình Ngô đại-cáo
-       Văn bia Vĩnh-lăng
-       Bạt – của cụ Bảo Thần

Về nhận định số 2, cụ Bảo Thần dùng hai động từ “soạn” và “viết” để khẳng định Nguyễn Trãi là tác giả của Lam-sơn Thực-lục (bao gồm Bình Ngô đại-cáo) và Văn bia Vĩnh-lăng. Ý tưởng này thiết nghĩ không có gì đáng bàn nếu chữ “soạn – 撰”không đa nghĩa.

Thiều-chửu Từ điển cho biết:

“撰” – Soạn là làm văn, làm sách, ghi chép các việc gọi là soạn. Như soạn thuật 撰述 thuật việc theo trước làm thành bài, thành sách, soạn trước 撰著 tự lấy ý mình làm thành văn, thành sách, v.v.

Như vậy, “soạn” vừa có nghĩa sáng tác, vừa có nghĩa chép lại sự việc. Nếu là sáng tác thì soạn giả là chủ nhân của cả câu chữ lẫn nội dung tư tưởng, nếu có, của tác phẩm. Nếu là chép lại sự việc thì soạn giả chỉ đơn thuần là người chấp bút, là chủ nhân của câu chữ và chỉ câu chữ mà thôi. Soạn, trong trường hợp thứ 2 cũng như H. C. Andersen kể lại chuyện cổ tích hay như J. Favreau soạn diễn văn cho ông B. Obama. Dĩ nhiên câu chữ hay cũng đáng là văn tài hiếm có.

Căn cứ nội dung của Lam-sơn Thực-lục và lời của Lê Thái-tổ: “Nên Trẫm nghĩ làm ra bộ sách này, thực là rất trông-mong cho con-cháu đời sau!” và Văn bia Vĩnh-lăng: “Vinh-lộc Đại-phu Nhập-nội Hành khiển, chủ việc ba quân, tôi là Nguyễn Trãi phụng Sắc, soạn”;

Căn cứ sự giống nhau trong đoạn đầu của Văn-bia và Lam-sơn Thực-lục như cụ Bảo Thần đã chỉ ra; người đọc có thể kết luận: Cả hai tác phẩm đều do Nguyễn Trãi phụng Sắc mà soạn nên. Lam-sơn Thực-lục là do phụng Sắc của Lê Thái-tổ, Văn bia Vĩnh-lăng là do phụng Sắc của Lê Thái-tông.

Vậy, “soạn” ở đây nên được hiểu là “ghi chép các việc”, nghĩa là nội dung tư tưởng, nếu có trong tác phẩm, đều không phải của Nguyễn Trãi.

Nên chăng từ nay, khi xuất bản các tác phẩm này cần ghi rõ “Nguyễn Trãi soạn thuật theo ý chỉ của Lê Thái-tổ/Lê Thái-tông” thay vì chỉ ghi đơn giản là “Nguyễn Trãi” để tránh sự hiểu nhầm?

Về nhận định số 3, cụ Bảo Thần khẳng định “Còn chỗ nói đến các văn-thần có công giúp Nhà-vua mở nước, thì chỉ kể có Lê Văn Linh và Bùi Quốc Hưng. Ấy là ông Trãi tự mình khiêm-tốn không dám tự-nhận là hạng khai-quốc nguyên-huân”. Thiết nghĩ, kết luận này cần được xem lại ở hai điểm: Một là Nguyễn Trãi có phải là “khai quốc công thần” không? – Việc này cần tra cứu nhiều tài liệu nên không xem xét trong khuôn khổ bài viết này. Hai là Nguyễn Trãi có nêu công lao của mình trong các văn bản nêu trên không?

Nếu Nguyễn Trãi có công lớn trong việc giúp Lê Thái-tổ mở nước thì công ấy ắt lớn hơn hẳn công lao “soạn” Bình Ngô đại-cáo và “giấy tờ đi lại ở trong quân”. Việc soạn Bình Ngô đại-cáo dù nhỏ hay lớn đối với Nguyễn Trãi thì cũng ắt phải kể vì đấy là việc lớn của Vua, là điểm mốc quan trọng trong lịch sử quốc gia. Tuy nhiên, tại sao Nguyễn Trãi không kể công lao gì lớn mà lại chỉ viết về mình đúng một câu: “Nhà-vua từ khi khởi nghĩa, đến lúc bình được giặc, lấy lại được nước, bao nhiêu giấy tờ đi lại ở trong quân, đều sai văn thần Nguyễn Trãi làm ra”. Chuyện này lại không bị bắt buộc phải kể như chuyện soạn Bình Ngô đại-cáo.

Vả chăng, theo suy nghĩ chủ quan của tôi, việc soạn thảo những văn bản này không phải là việc riêng giữa Nhà vua và Nguyễn Trãi. Cứ như lời tựa của lần chỉnh lý vào năm Vĩnh-trị thứ nhất (1676) dưới triều Lê Hy-tông, thì chỉ riêng việc “tìm-tòi, chắp-vá, sắp lại thành sách” đã cần đến 8 người. Huống chi, việc làm sách như lời Lê Thái-tổ nói “cốt là để trọng nghĩa đầu gốc. Và cũng để kể rõ sự-nghiệp gian-nan của Trẫm, truyền-bảo lại cho con-cháu vậy.” Với mục đích đó, e rằng, ít nhất khi soạn xong, sách phải được trao cho đình thần xem xét luận bàn trước khi Nhà vua phê chuẩn. Vậy, nhẽ nào toàn bộ đình thần (và cả Nhà vua) đều thấy việc không ghi công lao của Nguyễn Trãi (nếu thực sự có công lớn) là điều hợp lý?? Thật đáng suy nghĩ và tìm hiểu!

Lời nhắn: Bạn đọc nào có hứng thú với bản epub, mobi của quyển sách này thì để lại địa chỉ thư điện tử ở mục bình luận (comment), mình sẽ gửi tặng.

6/5/13

Nguyễn Trãi bị giam ở đâu

Hàn Giang

Đọc lại bài Thủ vĩ ngâm của Nguyễn Trãi trong Quốc âm thi tập, mình rất thắc mắc về chữ "Nam" trong câu đầu và câu cuối được viết hoa. Nguyên bài này Nguyễn tiên sinh viết bằng chữ Nôm, hậu thế chuyển thành chữ quốc ngữ.

首 尾 吟 / Thủ vĩ ngâm

谷 城 南 犼 蔑 間 / Góc thành Nam lều một gian
奴 搩 俧 少 琟 吿 / No nước uống thiếu cơm ăn
昆 隊 遁 揚 埃 眷 / Con đòi trốn dường ai quyến
堏 馭 檝 少 几 绖 / Bà ngựa gầy thiếu kẻ chăn
傉 瞸 狹 回 坤 且 琾 / Ao bởi hẹp hòi khôn thả cá
茹 涓 趣 庶 礙 挼 働 / Nhà quen thú thứa ngại nuôi vằn
朝 官 拯 沛 隱 拯 沛 / Triều quan chẳng phải ẩn chẳng phải
谷 城 南 伨 蔑 間 / Góc thành Nam lều một gian

Giả sử việc viết hoa chữ "Nam" là đúng thì nảy sinh chút nghi hoặc. Hầu hết sách vở bằng chữ quốc ngữ sau này đều cho rằng Nguyễn tiên sinh viết bài này khi bị giặc Minh giam ở thành Đông Quan (tên của thành Thăng Long lúc bấy giờ), cụ thể là bị giam lỏng ở góc phía nam thành.

Nếu "nam" là chỉ phương vị, thì sao lại viết hoa?? Theo ngữ pháp tiếng Việt, danh từ chỉ phương vị trong trường hợp này đương nhiên viết thường. Vậy, kết luận 1: nếu viết hoa thì “Nam” ắt hẳn là chữ chỉ địa danh.

Bên cạnh đó, toàn bộ bài thơ được kết cấu theo ngữ pháp tiếng Việt. Tính từ, bổ ngữ đều đứng sau danh từ. Ví dụ: “No nước uống” hoặc “Bà ngựa gầy” (Bà = Con, tiếng Việt cổ). Tại sao riêng câu đầu, câu cuối lại viết theo ngữ pháp tiếng Hán “Góc thành Nam”. Nếu ở góc nam của ngôi thành thì phải là “Góc nam thành” mới đúng. Nếu cụm từ này đã được viết đúng ngữ pháp tiếng Việt và chữ "Nam" viết hoa như kết luận 1 trên đây thì kết cấu của cụm này phải là “Góc / thành Nam”; trong đó “thành Nam” là cụm từ định danh một ngôi thành nào đó có tên đầy đủ hoặc tên tắt là “Nam”. Tạm gọi đây là kết luận 2.

Trong thời gian giặc Minh đô hộ, nước ta có hai ngôi thành lớn là Thăng Long tức Đông Đô hoặc Đông Quan và Tây Đô hay Tây Kinh. Cả hai ngôi thành này không có yếu tố “nam” trong tên. Xét trong suốt lịch sử Việt Nam, Thăng Long cũng chưa bao giờ mang tên có chứa yếu tố phương vị “Nam” trong tên.

Tên của Thăng Long qua các thời kỳ:
- Đại La: dưới thời Phùng Hưng, họ Khúc, Dương Đình Nghệ, Kiều Công Tiễn
- Thăng Long (昇龍): Triều Lý, Triều Trần, Hậu Lê
- Đông Đô: Trần Thiếu Đế
- Đông Quan: Thời kỳ thuộc Minh
- Đông Kinh: Lê Thái Tổ
- Thăng Long (昇隆): Gia Long
- Hà Nội: Từ Minh Mạng trở về sau

Căn cứ kết luận 2 và sự thật về tên của Thăng Long trong thời kỳ này, phải chăng, Nguyễn Trãi KHÔNG bị giam ở Đông Quan?! Thậm chí, ông KHÔNG bị giam ở Đại Việt?!

Lưu ý: Nguyễn Trãi bị giam ở đâu rất quan trọng vì điều này liên quan đến việc ông tham gia Nghĩa quân Lam Sơn vào lúc nào và đóng góp đến đâu.