Chuyện phố đổi sang địa chỉ mới "chuyenpho2.blogspot.com"

20/5/14

Nặng lòng với bản Hiêu

Nếu đã chán ngán phố phường đông đúc, chật hẹp; nếu muốn tìm một nơi phong cảnh hữu tình, không gian trong trẻo để thư giãn bên những người dân chất phác luôn đón bạn bằng những câu chào thân ái, hồn hậu; đừng chần chừ, hãy chuẩn bị hành lý và về với bản Hiêu (Khu bảo tồn thiên nhiên Pù Luông, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa). Một hành trình gian nan nhưng thú vị đang chờ đón bạn.

Địa chỉ đỏ cho dân “phượt”
Từ thủ đô Hà Nội, đi về hướng Nam, theo đường Hồ Chí Minh, sau 140 km bạn sẽ đến Cẩm Thủy, Thanh Hóa. Từ Cẩm Thủy, rẽ vào tỉnh lộ 217, đi thêm 36 km đường rải nhựa, bạn chính thức bước vào thử thách đến với bản Hiêu. Đoạn đường sau đó chỉ 20 km đường rừng núi nhưng sẽ ngốn của bạn gần một giờ đồng hồ trên xe gắn máy để đến một trong bốn ngôi nhà trọ hiếu khách của bản. Với chúng tôi, thời gian ấy còn kéo dài hơn dự kiến, bởi lịch trình đúng vào buổi chiều là thời điểm mặt trời xuống núi đẹp ngây ngất, nên chúng tôi không thể kìm lòng ghi lại khoảnh khắc đáng nhớ ấy.
Mặt trời xuống núi
Từ đầu làng, chúng tôi bắt gặp những cọn nước lớn. Trước kia, dân bản sử dụng cọn nước như một chiếc “cối” giã gạo nhưng nay chúng hầu như chỉ để dẫn nước và làm đẹp cho bản. 
Cọn nước của người Thái ở Suối Đũa
Những cọn nước tô điểm cho vẻ đẹp của con suối
và những mái nhà phía xa
Lang thang chụp ảnh dọc đường đến bản Hiêu thật không còn gì tuyệt hơn, nhưng chúng tôi cũng làm chủ nhà - anh Hà Văn Tùng - khá lo lắng. Anh đã gọi cho chúng tôi tới bốn lượt và đi xe ra đón chúng tôi ở đầu dốc dẫn tới nhà trọ khi đêm vừa buông xuống. Đêm ở bản thanh bình lạ. Xe máy của chúng tôi đều để dưới sàn nhà, không cần khóa cổ, mũ bảo hiểm để ngay yên xe. Tiếng ễng ương dưới ao chuôm ru chúng tôi vào giấc ngủ êm đềm. Sáng sớm chúng tôi được đánh thức bởi tiếng gà eo óc và ánh bình minh dìu dịu hắt qua cửa liếp. Đối với dân “phượt”, có thể gọi bản Hiêu là “địa chỉ đỏ” ở chốn “thâm sơn cùng cốc”.
Ngôi làng yên bình dưới chân núi, dọc đường vào bản Hiêu
Ruộng lúa xanh rờn tạo như những chiếc thảm nhung
tô điểm cho núi rừng Tây Bắc

Hiếu khách và chân tình
Bản Hiêu đẹp đến cỡ nào, bạn có thể dễ dàng nhận ra qua những tấm ảnh, nhưng để biết người bản Hiêu đáng mến ra sao, chúng tôi khuyên bạn hãy đến tận nơi và tận hưởng.
Như đã kể, trên đường đến bản, chúng tôi đã được anh chủ nhà tận tình gọi điện và chỉ dẫn từng mét đường. Bữa ăn ngon trong đêm đầu tiên ở bản cũng đã là quá tuyệt vời với gà rừng, rau sạch, rượu thơm, nhưng cảm động hơn là sự tận tình của chị chủ. Chị rót mời chúng tôi chén rượu và dành lại sự riêng tư cho khách. Khi chúng tôi không dùng hết đồ ăn, vì hơi nhiều, chị tỏ ra áy náy vì sợ khách không hợp khẩu vị. Sáng sớm, chúng tôi dậy từ tinh mơ khám phá bản Hiêu, chị chủ đã chuẩn bị bữa sáng chu đáo và không quên hỏi chúng tôi ngủ có ngon giấc. Lần thứ ba, là khi chị thu tiền trọ lúc chúng tôi ra về, vẫn với sự chất phác, chị thu tiền xong còn hỏi tôi: “Thế có đắt không ạ?” và không quên chúc chúng tôi đi đường may mắn và bỏ qua cho những sai sót của gia chủ.
Có lẽ đã lâu lắm, kể từ khi ở thành phố tới nay là mười mấy năm, dù được tận hưởng dịch vụ ở khách sạn nhiều sao, lần này tôi mới thực sự nghĩ mình là thượng khách với đúng nghĩa của từ - trân trọng mà không xa cách, thân tình mà không quỵ lụy. Có thể họ được huấn luyện, cũng có thể họ thực sự coi chúng tôi là thượng khách. Hóa ra ở nơi thâm sơn cùng cốc này, dịch vụ du lịch lại hoàn hảo và chuyên nghiệp hơn cả ở những đô thị văn minh.
Nhà ở bản Hiêu
Một đóa hoa dại vàng rực trong nắng sớm
Buổi sáng, khi chúng tôi đang hăng hái sục sạo những con đường, cây cỏ, những vạt đồi và nếp nhà sàn… thì một giọng nói cất lên “Chào anh chị ạ!”. Đó là của một cô bé chừng 14, 15 tuổi. Cô cười với chúng tôi rồi tiếp tục đi với cái gùi trên lưng. Không ai bảo ai, chúng tôi đều sựng lại. Có lẽ chúng tôi đã quá quen với sự xa cách, cảnh giác lẫn nhau nơi thành thị, vì vậy sự hiếu khách, chân tình của dân bản đã làm chúng tôi bất ngờ, xen lẫn một chút xấu hổ. Không màu mè, khách sáo; sự nhiệt tình, chất phác của người dân bản Hiêu đã khiến chúng tôi không muốn rời bước.


Người bản Hiêu

Peter và Lucie - du khách người Canada nặng lòng với bản Hiêu
đã lưu lại đây mấy ngày từ trước khi chúng tôi đến
Thông tin thêm
Bản Hiêu nằm ở Đông Nam khu Bảo tồn Thiên nhiên Pù Luông, cách thị trấn Cành Nàng (huyện Bá Thước, Thanh Hóa) khoảng 20 km. Bản nằm trong thung lũng nhỏ, bao quanh là núi Hiêu. Cây trồng chủ yếu là lúa, ngô. Hiêu theo tiếng dân tộc Thái nghĩa là con hươu. Dân làng kể rằng, sở dĩ bản được đặt tên đó là do ngày xưa có một người đi săn, đuổi theo con hươu rồi nhờ vậy mà tìm ra nguồn nước, thấy phong cảnh nên thơ với thung lũng và con thác đẹp nên định cư, lâu dần thành bản. Ngày nay dân cư bản Hiêu vẫn còn thưa thớt, có 45 hộ, 178 nhân khẩu, chủ yếu là người Thái. Bản Hiêu bắt đầu làm du lịch từ năm 2003. Hiện có bốn hộ cung cấp dịch vụ homestay (ở cùng chủ nhà) là anh Sỹ, anh Nối, anh Ba và anh Tùng. Du khách đến đây sẽ được sắp xếp ở nhà sàn, rộng rãi và sạch sẽ. 

Cẩm Giang


19/5/14

Chốn vương giả giữa cao nguyên đá


Đến Đồng Văn, Hà Giang, không thể không đến thăm một địa điểm ghi dấu thời kỳ vàng son của con người từng bá chủ một vùng cao nguyên đá rộng lớn với vô vàn huyền tích bao quanh, đó là di tích lịch sử nhà Vương, hay được dân gian quen gọi là dinh thự vua Mèo.

Huyền thoại cao nguyên

Dinh thự được xây dựng trong lòng thung lũng Sà Phìn, bao quanh là dãy núi đá chỏm nhọn hoắt với những con đường vắt vẻo, quanh co tựa như một sợi chỉ trắng mỏng manh trên bức tranh thêu nhiều màu sắc. Giữa thung lũng quanh năm mây mù bao phủ, nằm trên tuyến đường chông gai, xa xôi nơi cực bắc tổ quốc này, khu dinh thự đồ sộ có kiến trúc vương giả, thành quách kiên cố với rừng sa mộc hùng dũng vươn lên cao vút tận mây trời là minh chứng hùng hồn cho quyền lực và sức mạnh độc tôn của “vua Mèo”.

Dinh thự vua Mèo nằm trong lòng thung lũng Sà Phìn quanh năm mây phủ
Vị “vua Mèo” Vàng Dúng Lùng - tên theo âm Hán-Việt là Vương Chính Đức - được đồng bào dân tộc Mông tôn là vua. Sau này, người ta thường nhầm lẫn quy địa vị này cho con trai thứ của ông - Vàng Chí Sình, nhưng chính hậu duệ của ông khẳng định rằng, chỉ có Vương Chính Đức mới được người Mèo nơi đây ngưỡng mộ và suy tôn là vị vua duy nhất. Xung quanh ông có rất nhiều câu chuyện huyền thoại, kỳ bí tựa như lớp mây mù bao phủ quanh vùng đồi núi hiểm trở này vậy. Bên cạnh tài trí hơn người, ông còn được cho là Vương Chính Đức có… phép thuật, biết sử dụng tà đạo để thuyết dụ dân chúng.

Ông Vương Chính Đức (ngồi giữa) cùng con cháu và quân lính
(Ảnh chụp lại từ di tích)
Thực tế, Vương Chính Đức là một người thông minh, tài trí hơn người, thổi khèn hay và có khả năng thu phục lòng người. Sinh năm 1865, đến năm 1900, ông đã chỉ huy nghĩa quân Mông chiếm cứ một vùng núi cao, rừng rậm, lập nên “nghĩa binh hươu nai” đương đầu với giặc Cờ Đen và tiêu diệt chúng, giành Đồng Văn vào tay người Mông. Sau đó, ông tiếp tục chỉ huy nghĩa quân kháng Pháp và chiến đấu chống lại âm mưu xâm chiếm của nhà Thanh. Trong 9 năm, từ 1900 đến 1909, nghĩa binh hươu nai đã chiến đấu một mất một còn với những đợt tấn công liên tục của đội quân Pháp, song thua trận buộc phải nhường Đồng Văn cho Pháp. Không chịu bại trận, Vương Chính Đức tiếp tục tuyển mộ binh sĩ, rèn luyện và đánh Pháp trong 4 năm ròng cho đến khi giành được thắng lợi vang dội vào năm 1913. Trước sức mạnh áp đảo của đội quân này, Pháp đã phải ký Hòa ước Pháp - Mèo với nhiều điều khoản có lợi cho người Mèo. Theo Hòa ước, Pháp phải triệt thoái quân đội khỏi Đồng Văn, trả Đồng Văn cho người Mông cai quản bằng chế độ tự trị. Muốn thu mua thuốc phiện, các đại lý thuốc phiện Pháp phải tăng giá lên 5 lần, từ 2 hào lên 1 đồng cho mỗi lạng (tính theo đơn vị cân vàng).

Sau khi ký Hòa ước, Vương Chính Đức gần như trở thành vị thánh sống của vùng, độc chiếm nguồn lợi thuốc phiện trên toàn xứ Đồng Văn.

Khi Vương Chính Đức qua đời, ông giao cơ nghiệp lại cho người con thứ là Vàng Chí Sình (sinh năm 1885). Vàng Chí Sình sau này đi theo cách mạng, kết nghĩa với Hồ Chủ tịch. Trong “Tuần lễ vàng” do Chính phủ Việt Nam Dân chủ cộng hòa phát động, Vàng Chí Sình đã cho vận chuyển về Hà Nội 22 vạn đồng bạc trắng và 9 kg vàng để ủng hộ chính phủ Cụ Hồ.

Một thời vang bóng

Dinh thự vua Mèo được giữ lại đến ngày nay, để người đời sau ngưỡng mộ và nể phục vị vua tinh thần của người Mông từng một thời vang bóng. Ai đã từng đến thung lũng Sà Phìn không thể không choáng ngợp trước quần thể di tích được xây dựng với chi phí là 150.000 đồng bạc trắng, mà tính theo thời giá hiện tại, chưa kể công sá, phải lên tới gần 40 tỷ đồng.

Chất “chơi” của vị vua này phải kể đến việc ông thuê thợ tận Quảng Tây, Trung Quốc xây dựng tòa lâu đài tới 64 phòng tất thảy bằng đá khối và gỗ sa mộc. Cùng với những người thợ Mông lành nghề bậc nhất thời bấy giờ, dinh thự được chăm chút từng chi tiết, tạo nên kiến trúc độc đáo, pha trộn giữa những nét đặc trưng của kiến trúc nhà Thanh, Trung Quốc vừa nổi bật vẻ độc đáo của nhà người Mông Việt Nam.


Chi tiết trang trí có hình chim bay và
phù điêu phượng hoàng triển dực chạm khắc tinh tế
Các nguyên vật liệu đá, gỗ và ngói lợp cũng được vận chuyển từ Quảng Tây, cho nên công trình mất tới 8 năm không liên tục để hoàn tất. Rừng sa mộc với 120 gốc cao ngút hùng dũng hiện tại cũng được vận chuyển từ Quảng Tây đến.

Khu dinh thự vừa là nơi vị vua Mèo sống vừa là pháo đài bất khả chiến bại của ông. Tường thành được xây cao vút, xung quanh có quân lính bảo vệ, cách mỗi đoạn tường lại được bố trí các lỗ châu mai và chòi canh thế nên khó có thể đột nhập từ phía ngoài.

Mái dinh được lợp toàn bộ bằng ngói ống và trang trí đĩa hoa văn chữ thọ
Dinh nhà Vương rộng lớn được chia thành ba khu Tiền sinh, Trung sinh và Hậu sinh, gồm nhà khách, phòng làm việc, phòng ngủ cho các thành viên trong dòng họ, phòng ở của các gia nhân giúp việc và quân lính, nhà kho lương thực, kho vũ khí. Đặc biệt, ở khu Hậu sinh có xây dựng riêng 2 kho bằng đá phiến, mặt ngoài tường dày 1,4m, mặt trong dày 0,8m, bảo đảm đạn súng cối hay bộc phá cũng không thể xâm phạm. Một kho cất giữ vàng, bạc châu báu; một kho cất trữ thuốc phiện. Hai kho này được giao cho hai bà vợ cả và vợ hai giữ chìa khóa.

Điểm đặc biệt trong dinh thự Vương Chính Đức là hình ảnh quả anh túc chiếm vị trí nổi bật trong tất cả các chi tiết trang trí. Tất cả các phiến đá kê cột nhà, những họa tiết trang trí trên đầu kèo nhà… đều được đẽo, gọt, tiện thành hình quả anh túc.

Hình ảnh quả thuốc phiện đóng vai trò chủ đạo trong trang trí dinh thự vua Mèo
Riêng hai phiến đá kê cột nhà ở khu vực Trung sinh là đắt giá nhất, bởi sau khi mài nhẵn, chúng được dùng những đồng bạc hoa xòe đánh bóng loáng, biến đá trắng thành màu đồng thau, gần như màu quả thuốc phiện đã phơi khô. Để làm được mỗi phiến đá kê cột nhà này, vua Mèo đã mạnh tay chi ra từ 800 đến 900 đồng bạc hoa xòe.

Phiến đá kê cột nhà được đánh bóng bằng 800-900 đồng bạc hoa xòe
Đây là một cách ám chỉ sức mạnh quyền lực cũng như tương lai của nhà họ Vương và của cả cộng đồng người Mông Đồng Văn lúc bấy giờ đều dựa vào cây anh túc.

Phù điêu hoa cúc chạm gỗ trên cửa 
Năm 1928, Vua Khải Định đã ban cho Vương Chính Đức một bức hoành phi đại tự có 4 chữ "Biên chính khả phong" cùng thẻ bài và mũ mão đại thần, chính thức công nhận quyền lực họ Vương ở chốn biên thùy. Cũng kể từ đó, người Mông gọi ông là Chính Vương, xem ông  như "Vua Mèo" thực thụ.

Vương Chính Đức được vua Khải Định ban cho
bức hoành phi đại tự đề 4 chữ “Biên chính khả phong”
Phần mộ của Vương Chính Đức, theo như di nguyện của ông, được đặt phía sau đỉnh núi hình tam giác nhọn, nhìn thẳng vào mặt trước dinh thự, nơi quanh năm gió lộng, mây mù vấn vít. Có lẽ ông muốn khi mình ra đi rồi vẫn có thể dõi theo cuộc sống của con cháu và sự nghiệp của dòng tộc. Phần mộ lớn nhất, nằm ngay dưới hàng cây sa mộc trước cửa dinh thự là mộ của mẹ Vương Chính Đức, được làm bằng đá, khắc công phu, cỏ mọc um tùm tươi tốt. Theo quan niệm của người Mông, phần mộ phải có nhiều cây cỏ mọc, càng sum suê thì con cháu càng được “lộc” của tổ tiên để phát triển.

Trước khi, một số hậu duệ của họ Vương vẫn sinh sống trong dinh thự, như từ khi khu tư dinh được Nhà nước xếp hạng di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia thì con cháu họ chuyển ra sống ở các khu nhà quanh đó. Theo cách mạng, người Mông nơi đây cũng không còn trồng cây thuốc phiện mà chuyển sang canh tác cây ngô. Từ cây ngô, đồng bào nấu thành một loại rượu đặc sản của cao nguyên giá lạnh, đó là rượu ngô rát bỏng đầu lưỡi, chảy tới đâu ấm lòng tới đó. Khu dinh thự ghi dấu một thời vàng son của vị vua Mèo chốn biên ải trở thành điểm du lịch hấp dẫn thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước tới thăm, để tìm hiểu về một công trình nghệ thuật độc đáo cũng như biết thêm về một thời kỳ lịch sử bi tráng của đồng bào các dân tộc vùng cao Hà Giang.

Đông đảo khách tham quan ở khu di tích Nhà Vương

Bài: Phượng Diễm, Ảnh: Phạm Jeff, P.D.


16/5/14

Nhìn lại Huế từ dặm dài Ô Lý


1. Có hay không một vương quốc Champa thống nhất


Có lẽ cũng đã đến lúc chúng ta dừng lại việc nhìn nhận vùng đất Trung bộ và nam Trung bộ Việt Nam, như những loại "chiến lợi phẩm" trong cuộc đối đầu giữa Đại Việt với một vương quốc Champa lân bang, nguyên vẹn và thống nhất trong lịch sử.
Một thời, việc nghiên cứu Champa với tư cách là một vương quốc tập quyền hình thành vào năm 192 và trải dài trong suốt nhiều thế kỷ đầu Công nguyên của Trung Quốc, như Thuỷ Kinh Chú, Lâm Ấp Ký, Tiền Hán Thư, Hậu Hán Thư, Đường Thư,... đã trở thành những nguồn tài liệu quan trọng, dẫn dắt các nhà nghiên cứu nhiều nước xích lại gần nhau trong quá trình biện dẫn sự ra đời của nhà nước Lâm Ấp từ cuộc nổi dậy của Khu Liên, nhân vật (nhóm người?) đã giành độc lập từ tay nhà Hán ở vùng đất Nhật Nam xa xôi so với tầm tay quản lý của "thiên triều".
Những khuôn mặt Champa học lớn ở phương Tây như H.Maspéro, L. Aurousseau, E.Aymonier, L.Finot, H.Parmentir, G.Coedès, J.Y. Clayes, R. Stein với những lập luận ít nhiều có tính xác quyết tiến trình hình thành nhà nước Champa, đã ảnh hưởng không nhỏ đến các học giả ở trong nước lẫn các nhà chuyên môn thuộc lớp hậu duệ ở Bắc Mỹ, Đông Á  và châu Âu sau này.
Sự hình dung ít có nghi vấn về một vương quốc có tên Lâm Ấp (192-758) à Hoàn Vương (758-866) à Chiêm Thành (886-1471) à Champa, thống nhất từ đèo Ngang đến hết vùng nam Trung bộ với tộc người Chăm chủ thể thuộc ngữ hệ Malayo-Polynesie, đã trở thành đầu mối cho những lập luận có liên quan đến nhiều công trình nghiên cứu về nhân học, lịch sử, chính trị, khảo cổ, kiến trúc, nghệ thuật học về Champa.
Trong chừng một vài thập niên trở lại đây, với sự bổ sung của nhiều nguồn tư liệu, nhất là sự mở rộng đối sánh theo dạng cấu trúc mô hình xã hội trên phạm vi khu vực Đông Nam Á của các nhà khoa học, cùng với những thông tin được giải mã một cách hợp lý giữa nội dung một số văn khắc cũng như các hiện vật khảo cổ học mới phát hiện bổ sung..., một số tác giả như B. Bronson, R. Hall, O.W. Wolter, R.Nakamura ....[1] và gần đây nhất William Southworth trong luận án tiến sĩ (2001) với đề tài The Origins of Champa in Central VietNam (Những nguồn gốc của Champa tại miền Trung Việt Nam) hoặc Le Vietnam des Royaumes (Việt Nam những vương quốc)[2] đã có những nhận định làm cho việc nghiên cứu Champa và dải đất Trung bộ- nam Trung bộ và Tây Nguyên đương thời cần phải được nhìn nhận lại.
Có thể nói một cách không ngần ngại là chưa có một tài liệu nào chứng minh được một cách thuyết phục sự hiện hữu của Champa trong lịch sử với tư cách là vương quốc thống nhất, với sự quản lý tập quyền từ một kinh đô duy nhất, mà ngược lại, người ta chỉ có thể nhận ra ở đây chân dung của sự sống chung, phân ly, liên kết, thống trị, bị trị, cát cứ, độc lập tương đối... giữa nhiều tiểu quốc, bao gồm không ít những tộc người có nguồn gốc và ngữ hệ khác nhau. Mô hình Mandala (tiểu quốc) mà các tài liệu phương Tây thường gọi là Circles of kings, là một tổ chức nhà nước dưới những cấp độ về quy mô và có cấu trúc kinh tế-xã hội-chính trị- thần quyền khá phổ biến ở vùng sử liệu, kể cả văn khắc bi ký của từng triều đại, chúng ta có thể dễ dàng tìm thấy thông tin liên quan đến các thị tộc Cau-Dừa, dòng Núi-dòng Biển, Bắc Chăm, Nam Chăm, các tên gọi chỉ cương vực địa lý chính trị như Amaravati, Indrapura, Vijaya, Kauthara, Panduranga... với sự tôn vinh và ngợi ca các vị thần toả ảnh hưởng trong lãnh địa của mình. Những dấu hỏi về Phù Nam, vương quốc Mạ ở thượng nguồn sông Đồng Nai, hàng loạt di tích Án giáo ở Tây Nguyên, vương quốc Koom và nhóm Katuic ở miền núi Trung bộ, đều tỏ ra, ít nhất, là trong những thông tin hiện có, không hề biểu thị bất cứ tính liên kết hữu cơ máu thịt nào với một vương quốc mẹ trong một thể thống nhất.
Với xu hướng mới trong việc tiếp cận nghiên cứu vùng đất Champa xưa như đã nêu, ngày càng có nhiều công trình đề cập đến những lập luận thuyết phục hơn về hình ảnh các tiểu quốc sống song song tồn tại bên nhau với những thăng trầm và đầy biến động; có thời kỳ một tiểu quốc đủ sức mạnh bành trướng thế lực, lại khống chế những tiểu quốc khác, và khu lịch sử sang trang, hiện tượng ấy có thể bị đảo ngược. Chính vì vậy, các thuật ngữ như Raja, Campadhipa, Haharaja, Rajadhiraja... trong bi ký Chăm nhằm chỉ thị uy quyền được tôn vinh: vua, vua vĩ đại, vua của các vị vua như một cách xác định thế lực của từng tiểu quốc trong những thời điểm cụ thể.
Chúng ta có thể xem triều đại Indrapura trong lịch sử là một thí dụ dẫn chứng. Ảnh hưởng của Indravarman I, người đăng quang và khai sáng triều đại Indrapura (875-972) đã toả ảnh hưởng của mình từ nam Quảng Nam đến tận Quảng Bình với một tiểu quốc gồm nhiều tiểu quốc bị khống chế, tạo nên dấu ấn Phật giáo khá đậm nét trong lịch sử.
2. Ô Lý trong cuộc chuyển dịch về phương Nam của người Việt
Trong lịch sử phong kiến luôn phản ánh chất đa sách lược của Đại Việt trong bang giao với các nước lân bang, lẫn cả trong đối nội với những khu tự trị ở các tộc người thiểu số: phủ dụ, trừng phạt, răn đe, liên kết hữu nghị, bắt cầu su gia... Ô và Lý là món sính lễ có được giữa Sihavarman III (Chế Mân) và Trần Anh Tôn qua chuyến viễn du công cán dài ngày trên vùng đất Chăm của Trần Nhân Tôn, tất cả chỉ là hệ quả của thực tế không cưỡng lại được, đó là sự đối trọng không cân xứng giữa một nhà nước quân chủ tập quyền, tồn tại trên cơ sở nông nghiệp với những tiểu quốc lấy thương nghiệp trao đổi làm trụ cột. Giáo sĩ và thương nhân ở các tiểu quốc là hai thế lực làm chủ những cửa sông lẫn biển và phát huy uy lực bằng kinh tế hàng hoá, mỗi cửa cảng chịu sự quản lý của một tiểu vương mà cương vực của ông ta được xác lập trên một trục theo dạng cấu trúc cảng biển, sông thiêng, núi thiêng, đất thiêng với tính chất này, đã làm sự gắn bó giữa họ, kẻ nắm quyền lực trong tay với đất đai không mặn mà như người làm nông và những vương quốc lấy nông nghiệp làm trọng. Đất hứa của những người có quyền lực ở những tiểu quốc Chăm là sản vật, hàng hoá, thị trường và mãi lực... Cho nên, họ sẵn sàng ra đi với gia sản gọn nhẹ trên chiếc thuyền buôn, để tìm một thị trường ổn định hơn khi tình hình chính trị, quân sự không còn thuận lợi cho nghề nghiệp kinh doanh của họ. Kẻ ở lại là những người nông dân, dễ dàng hoà nhập với người đến sau trong điều kiện đất rộng người thưa. Những di tích Ấn Độ giáo, lễ vật tạ ơn từ những món lợi nhuận của giới thương nhân quý tộc là những đền tháp và di tích tôn giáo khác cũng chóng trở thành những điểm "kính nhi viễn chi" trong quan niệm của họ. Sự kế thừa tiếp nối việc thờ cúng đã vì thế không xảy ra, mặc dù, cuộc bàn giao hữu nghị vùng Ô, Lý cho Đại Việt đã không tạo nên sự xáo trộn dân cư lớn. Tài liệu Thỉ Thiên Tự của Bùi Trành vào đầu thế kỷ XV ở vùng Trị Thiên mà chúng tôi có dịp công bố đã cho chúng ta hình dung được hiện tượng này[3].
Đền thờ Huyền Trân Công Chúa tại núi Ngũ Phong, thôn Ngũ Tây, xã Thủy An, TP Huế

Đôi rồng trong đền, được xem là lớn nhất Việt Nam
Cuộc chuyến dịch dân cư về phía Nam của người Việt từ bối cảnh này chẳng quá khó để giải thích tại sao lại nhanh chóng và yên ả đến thế.
Trong bài viết khá thuyết phục “Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu quốc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành khoảng giữa thế kỷ 11-15” của Trần Kỳ Phương[4] đã cho chúng ta thấy ít nhất có 6 tiểu quốc tồn tại ở Bắc miền Trung vào thời kỳ này: Vijaya (Bình Định), Amaravati (Quảng Nam), Ulik (Trị Thiên), Jriy (Đồng Hới) và Traik (Bố Trạch-Quảng Bình).
Ulick mà sau này sử Việt đổi là Ô Lý chính là một trong những tiểu quốc nằm trong vùng khống chế của Simhavarman III đã được bàn giao cho người Việt một cách nhẹ nhàng mà Huyền Trân công chúa, trong trường hợp này, đã là hoặc chỉ để làm thi vị hoá, lãng mạn hoá một sự kiện chính trị và bang giao không thể thay đổi của tình hình đương thời. Việc trở lại Thăng Long và không lên dàn hoả thiêu cùng chồng đã tự nó giải thích ý nghĩa tình huống bi ai này. Nhưng dù sao Huyền Trân vẫn là một nhân vật lịch sử làm cho vận mệnh đất nước nói chung và xứ Huế có được một giai thoại đẹp đẽ, thi vị, thơ mộng như chính cảnh sắc và con người nơi đây.
Nguyễn Hữu Thông
(Trích trong 700 năm Thuận Hoá-Phú Xuân-Thừa Thiên Huế)



[1] Xem các tài liệu:
- Bronson. B (1977), Exchange at the Upstream and Downstream Ends: Note Toward a Funtional Model of the Coastal State in Southeast Asia: Perspectives from Prehistory, History and Ethnography [Huteerer, Karl L.ed]. Ann Anbor: Center for South and Southeast Asia Studies. The University of Michigan. USA.
-Hall R.K (1999), Maritime Trade and Early State Development in Southeast Asia, Honolulu: University Washington: Departent of Anthropology.
-Nakamura Rie (1999), Cham in Vietnam: Dynamics of Ethnicity (Ph.D dissertation) University Washington, Department of Anthropology.
-Wolter O.W (1982), History, Culture and Religion in Southeast Asia Perspective, Singapore: Istitute of Southeast Asia Studies.
-Schweryer A.V (1999), La vaisselle en argent de la dynastie d'Indrapura (Quang Nam-Vietnam), Bulletin de I'Ecole Francaise d' Extreme-Orient.
-R.C. Majimdar (1985), Champa: History and Culture of an Indian colonial kinhdom in the Far East 2sd-16th century AD, Dehli: Gian Publisher House.
-"Champa", trong The Cambridge History of Southeast Asia, vol. 1 [From Early time to C. 1800], Cambrdge: Cambrdge University Press.

[2] Cercle d'Art (1995), Le Viet Nam des Royaumes, Paris: Cercle d'Art. và William A.Southworth (2001), The Origins of Champa in Central Vietnam (A preliminary Review), London: The School of Oriental & Africa Studies (SOAS).

[3] Nguyễn Hữu Thông (1996), "Bức tranh cư dân vùng Thuận Hoá đầu thế kỷ XV qua văn bản Thi thiên tự", T/c Thông tin Khoa học Công nghệ& Môi trường Thừa Thiên Huế, số 04.

[4] Trần Kỳ Phương (2005), "Bước đầu xác định danh hiệu các tiểu quốc miền Bắc vương quốc cổ Chiêm Thành khoảng giữa thế kỷ 11-15", T/c Nghiên cứu & Phát triển, Huế: Sở Khoa học&Công Nghệ tỉnh Thừa Thiên Huế, số 1.